CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHỀ LUẬT SƯ CÔNG VÀ MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1. KHÁI NIỆM NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ CÔNG 1. Nghề luật sư Do sự phát triển không đồng đều cả về vật chất lẫn tinh thần, bất kỳ xã hội nào cũng có sự ức hiếp, bị đối xử không công bằng.
Những người nghèo, người có vị thế yếu kém trong xã hội và kém hiểu biết về pháp luật luôn bị đối xử bất công, không được bảo vệ. Khi họ có những hành vi trái pháp luật bị buộc tội hoặc quyền lợi của họ bị xâm phạm thì luôn mong muốn có người am hiểu về pháp luật đứng ra bảo vệ cho họ. Do đó, để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tư vấn pháp luật của cá nhân, tổ chức nên nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về luật sư và nghề luật sư bắt đầu ra đời. Pháp lệnh luật sư năm 1987 và Nghị định số 15/HĐBT ngày 21 tháng 12 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy chế Đoàn luật sư đã xác định luật sư thực hiện TGPL không thu phí.
Bộ luật hình sự năm 1988 đã được Quốc hội thông qua ngày 29/6/1988 cũng đã có quy định về luật sư trong các trường hợp bị can, bị cáo bị xử về tội có khung hình phạt cao nhất tử hình hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần nếu họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời được người bào chữa thì cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người tham gia bào chữa cho họ. Ngày 25 tháng 7 năm 2001, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh số 37/2001/PL-UBTVQH10 quy định luật sư. Từ khi Pháp lệnh luật sư ban hành cho đến nay Quốc Hội đã ban hành và sửa đổi nhiều văn bản pháp luật quy định về nghề luật sư như Luật Luật sư năm 2006, Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 và văn bản hợp nhất của Văn phòng Quốc hội Luật Luật sư năm 2015. Kể từ thời điểm này nghề luật sư đóng vai trò quan trọng và phát triển mạnh mẽ trong xã hội.
Góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã 123doc 11 hội chủ nghĩa. Luật Luật sư năm 2006 và văn bản hợp nhất của Văn phòng Quốc hội có quy định: Điều 10. Tiêu chuẩn luật sư Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.4 Điều kiện để bổ nhiệm luật sư cũng quy định rõ là người phải có bằng cử nhân luật và đăng ký đào tạo tại một khóa đào tạo nghề luật sư. Sau khi hoàn thành khóa học và được cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư thì phải đăng ký tập sự tại một tổ chức hành nghề luật sư.
Hết thời gian tập sự phải được Liên đoàn luật sư Việt Nam tổ chức kiểm tra nếu đạt yêu cầu thì mới được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Luật Luật sư cũng có quy định rõ quyền của luật sư là được ký hợp đồng thực hiện dịch vụ pháp lý với các đương sự và được hưởng phí dịch vụ từ hợp đồng vụ việc chỉ trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng buộc phải có luật sư tham gia bào chữa. Hình thức hoạt động pháp lý của Luật sư là thực hiện tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Luật sư hoạt động dịch vụ pháp lý phải luôn tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, trung thực, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp của mình.
Đối với khách hàng luôn tận tâm trong công việc và hạn chế rủi ro cho khách hàng. Đối với quy định luật sư ở các nước trên thế giới nhìn chung cũng không khác gì quy định luật sư ở tại Việt Nam. Luật sư thực hiện pháp lý là tư vấn pháp luật, bào chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người dân. Luật sư được quyền ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với người yêu cầu cần luật sư bảo vệ, bào chữa.
Sau khi kết thúc vụ việc luật sư được nhận thù lao do người có yêu cầu chi trả (Thù lao của luật sư nhận theo khung giá quy định mà pháp luật tại nước sở tại cho phép). Luật sư hoạt động luôn tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp và pháp luật quy định nghề luật sư. Mục tiêu chung luật sư là phục vụ dịch vụ pháp lý cho người có nhu cầu trợ giúp pháp luật. 4 Trích Điều 10 Luật Luật sư năm 2006 “Tiêu chuẩn luật sư” 123doc 12 1.
Luật sư công Ở Việt Nam nghề LSC chưa có quy định chức danh này mà chỉ có Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm TGPL Nhà nước làm cộng tác viên thực hiện TGPL miễn phí cho người dân thuộc đối tượng được hưởng dịch vụ pháp lý theo quy định Luật TGPL (Điều 17 Luật TGPL năm 2017). Luật sư cộng tác viên Trung tâm sau khi thực hiện xong vụ việc thì được nhà nước trả thù lao trích từ nguồn ngân sách và người dân không phải trả bất kỳ khoảng phí nào cho luật sư.5 Theo một số nước trên thế giới (Canada, Israel, Argentina) quy định về LSC thì LSC là người thực hiện TGPL đó là luật sư làm việc tại các cơ quan nhà nước theo biên chế hoặc theo hợp đồng lao động. LSC sẽ phải tuân thủ việc chỉnh thị, báo cáo về nội dung công việc của mình với thủ trưởng cơ quan, của đơn vị mà mình đang công tác. Hoạt động mang tính chất từ thiện, miễn phí cho đối tượng được thụ hưởng dịch vụ TGPL.
LSC được tuyển dụng vào làm việc trong cơ quan nhà nước là công chức nhà nước được hưởng lương ổn định từ ngân sách nhà nước và các chính sách khác. LSC hoạt động thực hiện pháp lý theo sự điều chỉnh của Luật LSC của mỗi nước và tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Mọi hoạt động TGPL của LSC đều chịu sự quản lý, giám sát của Cục TGPL, Bộ Tư pháp. VAI TRÒ CHẾ ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ CÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Từ những nhu cầu thực tế đối với những đối tượng có trình độ dân trí thấp, kém hiểu biết pháp luật, yếu thế trong xã hội và điều kiện khó khăn về tài chính nên việc tiếp cận dịch vụ pháp lý là rất khó khăn đối với họ.
Để được bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp cho mình thì họ phải bỏ ra một khoảng phí ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư. Điều kiện này thì quá khó khăn. Do đó, để phục vụ cho những đối tượng yếu thế này nên một số nước trên thế giới như Israel, Canada, Argentina và một số nước khác đã triển khai thực hiện thí điểm mô hình LSC thực hiện miễn phí cho đối tượng 5 Trích Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 “Người thực hiện trợ giúp pháp lý”. 6 Theo Trịnh Thị Thanh (2015) “Giới thiệu trợ giúp pháp lý Argentina”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.vn/nghien-cuu-trao- doi/gioi-thieu-tro-giup-phap-ly-argentina, truy cập ngày 5/6/2018.
123doc 13 trên và luật LSC đã được ban hành. Kết quả qua một thời gian hoạt động của LSC thì nhận thấy rất có hiệu quả và LSC đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dân. Từ khi có LSC hoạt động TGPL miễn phí đã góp phần cải cách hệ thống tư pháp. Tạo điều kiện thuận lợi cho những người nghèo, người có khó khăn về tài chính, người trình độ văn hóa thấp, yếu thế trong xã hội được tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí nhanh chóng, kịp thời.
LSC thực hiện TGPL ít tốn kém hơn về nguồn lực, thời gian và có sự hợp tác trong các cơ quan Tòa án, cơ quan Tư pháp nhằm giúp họ tăng cường, mở rộng ảnh hưởng đối với hệ thống pháp luật tư pháp. Đối với chi phí phục vụ cho hoạt động LSC thì lại luôn thấp hơn luật sư tư, chất lượng vụ việc không thua kém gì đối với việc thực hiện pháp lý của luật sư tư. LSC luôn có tâm trong công tác và thực hiện hết trách nhiệm của mình. Mỗi quốc gia hoạt động TGPL của của LSC đều được sự điều chỉnh của Luật nơi sở tại (LSC Israel có Luật LSC năm 1995; nước Argentina Luật về văn phòng LSC Liên bang năm 1988)7.
LSC được tuyển dụng vào nhà nước để thực hiện TGPL là một công chức hưởng lương hàng tháng từ ngân sách nhà nước, có trách nhiệm trong công việc. Họ được quan tâm cho đi đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng nhiều chính sách (bảo hiểm y tế, phụ cấp, nghĩ phép…) và hoạt động LSC chịu sự điều chỉnh của các quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Đối với những đối tượng được thụ hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí như đối tượng bị thiệt thòi, có trình độ văn hóa thấp, yếu thế trong xã hội không tiếp cận được thông tin pháp lý dễ gây mất ổn định xã hội và thường hay bị lợi dụng thì được LSC kịp thời tiếp cận thực hiện TGPL. Những đối tượng này không phải chờ đợi, bỏ tiền thuê luật sư (Luật sư tư).
Sự tham gia thực hiện TGPL của LSC trong các cơ quan tố tụng đã góp phần khắc phục sự lạm quyền của các cơ quan xét xử, cố ý làm sai lệch sự thật vụ án, gây oan sai trong hoạt động tư pháp. LSC là một công chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên họ xác định được trách nhiệm của họ 7 Trích từ Phan Hà (2013) “Chế định luật sư nhà nước ở một số nước”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.vn/nghien-cuu-trao-doi/che-dinh-luat-su-nha- nuoc-o-mot-so-nuoc, truy cập ngày 5/6/2018. 123doc 14 trong công việc. Họ luôn cố gắng thực hiện tốt và phấn đầu hoàn thành nhiệm vụ được giao đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1.