Chương I THUC TRANG SAU 8 NĂM THI HANH LUẬT CÔNG TY VA LUAT DOANH NGHIEP TU NHAN |. LUAT CONG TY VA LUAT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG NHUNG NĂM ĐẦU CUA THỜI KY ĐỔI MỚI 1. Sự ra đời của luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Công cuộc đối mới nền kinh tế ở Việt nam là một quá trình tất yếu. Trong một thời gian dài, Việt nam đã áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Mô hình kinh tế này da to ra có hiệu quả trong thời kỳ chiến tranh. Tính kế hoạch cùng với một hệ thống quản lý hành chính, mệnh lệnh đã đóng vai trò tích cực trong việc tập trung nhanh chóng sức người, sức của phục vụ cho chiến tranh và đã góp phần làm nên những thang lợi to lon của dân tộc. Tuy nhiên, hoàn cảnh của chiến tranh đã phần nào che lấp những nhược điểm của cơ chế kinh tế này. Sau chiến tranh, chúng ta bắt đầu thực hiện các chính sách khôi phục và phát triển đất nước, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu.
Nhưng chính sách công nghiệp hoá đất nước trong thời kỳ này đã không thu được những kết quả như mong muốn. Vì chúng ta phát triển nền kinh tế đất nước từ một điểm xuất phát rất thấp: Cơ sở kinh tê là một nền sản xuất nhỏ: cơ cấu kinh tế thì manh mún. mang nặng tính chất của một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu. Quan điểm phát triển nền kinh tế đất nước từ mọt nền sản xuất hang hoá nhỏ tiến thang lên sản xuất lớn XHCN trong thời kỳ này đã trở thành những bước di chủ quan và nóng vội ' Nền kinh tế với cơ chế quản lý mệnh lệnh.
tập trung đã bọc lộ đây đủ những nhuo: diém của mình. đặc biệt là từ đầu những năm 80. Trong thời kỳ này. nền kinh tế đất nước đã rơi vào khủng hoảng tram trọng: san xuất đình -_ Xem van Kiện Đại hoi Dang lần VINXH Su Thật.
trang 19 8 trệ, hàig hoá khan hiếm, tinh trang lạm phát ngày càng cao, đời sống nhân dân g1:m sút. “rước những thực trạng của nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu cấp bách cần phải thy đối hệ thống kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế. Dang và Nhà nước ta đã đ đến thống nhất quan điểm là cần phải đổi mới cơ cấu nền kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế. Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IV năm 1979 đã xác định phương hướng thay đối cơ chế quản lý kinh tế với mục đích nâng cao sản xuất, phát triển các quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Tuy nhiên, ý tưởng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ này chỉ được thực hiện như một sự thí điểm, mang tính cục bộ. thiếu hệ thống. Chỉ đến năm 186, những điều kiện chính trị, kinh té , xã hội đã xuất hiện một cách đây đủ. là thời điểm chín muồi cho việc xây dựng và định ra một chính sách đổi mớ toàn diện nền kinh tế đất nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đưa ra định hướng cơ bản cho công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, trong đó chính sách đối với các thành phần kinh tế là tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh và cùng với kinh tế tập thể giữ vị trí quyết định trong nền kinh tế quốc dân. Mặt khác, khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, sử dụng kinh tế tiểu sản xuât hàng hoá. tiểu thương và kinh tế tư bản tư nhân ' Nghị quyết Dai hội VI của Dang đã đặt ra yêu cầu cần phải thé chế hoá đường lối, chính sách đó. Đặc biệt là phải xây dựng khung pháp luật kinh tế nhằm mở rộng và khuyến khích phát triển các thành phần kinh tê; Công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp mới, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp, xác lập quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp.
Yêu cầu đó đặt ra nhiệm vụ trước Nhà nước phải cấp bách xây dựng và ban hành một số văn bản pháp luật nhằm quy định và điều chinh tổ chức và hoạt động của một số loại hình doanh nghiệp mới. phù hợp với đường lối phát triển các thành phần kinh tê và phù hợp với điều kiện kinh tế. xã hội của ta lúc bấy giờ. - '_Xem van kiện Đại hội Đảng lần VLNXH Su that, Hà nội 1987, trang 218 9 Văn bản pháp luật đầu tiên quy định một cách tương đối toàn diện và rõ ràng về sự thừa nhận và phát triển kinh tế cá thể và tư doanh là Nghị định số 27- HĐBT ngày 9/3/1988 của HĐBT, ban hành bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng và vận tải.
Có thể nói, đây là sự khẳng định và ghi nhận về mặt pháp lý dau tiên đối với các thành phần kinh tế nói trên. Cùng với việc hướng dẫn, sử dụng kinh tế cá thể và tư doanh theo Nghị định 27-HDBT, Nhà nước cũng đã tích cực xúc tiến việc nghiên cứu xây dựng hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh cho các loại thành phần kinh tế nói trên. Và điều quan trọng là phải luật hoá được các yếu tố về tổ chức cũng như hoạt động của các loại hình tổ chức kinh doanh này. Trong những điều kiện và yêu cầu nói trên, Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân đã được nghiên cứu soạn thảo và ban hành.
Ngày 21 tháng 12 năm 1990 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá VIII đã thông qua luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân. Có thể nói, đây là lần đầu tiên chúng ta có luật điều chỉnh về hoạt động của công ty cũng như doanh nghiệp tư nhân, và cũng là lần đầu tiên trong những văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất (Sau Hiến pháp), ghi nhận về sự tồn tại và phát triển lâu dài của các loại hình tổ chức kinh doanh này, cũng là thừa nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của kinh tế tư nhân. trong thực tiễn hoạt động thương mại ở nước ta cũng đã từng tồn tại các loại hình tổ chức kinh doanh dưới dạng công ty, và cũng đã có những thời kỳ ở nơi này nơi kia đã từng tồn tại những quy định luật pháp điều chỉnh các loại hình tổ chức kinh doanh này. Trong thời kỳ Pháp thuộc, ở Việt nam cũng từng tồn tại nhiều công ty dưới hình thức hội buôn, đó là những hình thức công ty đơn giản.
Luật lệ về công ty được quy định lân đâu tiên ở Việt nam là trong Dân luật được thi hành tại các Toà án Nam, Bac kỳ năm 1913, trong đó có nói về hội buôn. Theo các quy định của Đạo luật này, các công ty được chia thành hai loại: Hội người va Hội vốn. Trong Hội người chia thành Hội hợp danh (công ty hợp danh), Hội hop tư (công ty hop von đơn giản) và Hội đồng lợi. Hội vốn 10 chia thành hai loại: Hội vô danh ( công ty cổ phần) và hội hợp cé (cong ty hợp vốn cổ phần đơn giản), không có hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
Năm 1944 chính quyền Bảo Đại cùng xây dựng và ban hành Bộ luật thương mại trung phần. Đặc biệt, năm 1972 chính quyền Việt nam cộng hoà đã ban hành bộ luật Thương mại. Các văn bản này đều có những quy định điều chỉnh các loại công ty nói trên. Ở miền Bắc, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung cũng tồn tại nhiều đơn vị kinh tế Nhà nước có tên gọi là công ty.
Tuy nhiên khái niệm công ty không được hiểu theo đúng bản chất của nó. Trên thực tế, trong thời kỳ này chúng ta chưa có các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh thực sự theo kiểu các công ty thương mại và cũng chưa có pháp luật về công ty. Chỉ tồn tại những quy định pháp luật về mô hình tổ chức xí nghiệp công nghiệp, xí nghiệp liên hợp và liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước. Sự ra đời của luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990, không chỉ đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc xác lập về mặt pháp lý các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh mới ở nước ta đó là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, mà còn là mốc đánh dấu sự ra đời của những thể chế pháp lý mới.
điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh này. Vai trò, ý nghĩa của Luật cong ty và Luật DNTN Sự ra đời của Luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 là sự thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đầu cuả quá trình đổi mới. Vai trò và ý nghĩa của các luật này không chỉ dừng lại ở sự tiên bộ về mặt pháp lý. tạo ra những khung khô pháp lý mới trong tế chức và hoạt động kinh doanh mà còn đem lại những tác động to lớn đối với nên kinh tế quốc dân, góp phần giúp đất nước thoát khỏi tinh trạng khủng hoàng trầm trọng trong thời kỳ này.
Tựu chung lại, Luật cong ty và Luật doanh nghiệp tư nhân đã có những đóng góp to lớn sau đây: 11 2. Về mặt kinh tế: - Sự ra đời của luật công ty và luật doanh nghiệp tu nhán góp phan làm thay đổi cơ bản cơ cấu các thành phan kinh tế. Trong những điều kiện của nên kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan điểm về sở hữu trong thời kỳ này là nền kinh tế tồn tại hai hình thức sở hữu chủ yếu: Sở hữu toàn dân ( còn gọi là Sở hữu Nhà nước) và Sở hữu tập thể. Quan điểm Sở hữu này đã chi phối quan điểm hình thành cơ cấu nên kinh tế.