Chương 1: Những vẫn đề cinmg về hoạt động bào chita của Trợ giúp viên pháp I} cho người bi buộc tội trong tổ ting hình sự. Chương 2: Thực tiễn hoại động bào chita của Tro giúp viên pháp lý cho người bị buộc tôi tại tỉnh Yên Bái và giải pháp nâng cao chất lượng của oat đông này. CHUONG1 NHUNG VAN DE CHUNG VE HOẠT BONG BAO CHUA CUATRO GIÚP VIÊN PHÁP LY CHO NGƯỜI BỊ BUỘC TOI TRONG TỔ TUNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, nội dung hoạt động bao chữa của Trợ giúp viên pháp lý cho người bị buộc tội trong tố tung hình sự.
LLL Khái niệm hoạt động bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý cho người bị buộc ội trong 16 tụng hình sự a Khải niệm Trợ giúp viên pháp I Tro giúp theo nghĩa thông thường là giúp đỡ cho những người khó khăn, thường lả giúp đổ vẻ mit vật chất. Trợ giúp cũng có thể la tro giúp vé sức kde, tâm lý, nghiệp vu. Trong khi đó, TGPL nói chung la trợ giúp vẻ mmặt pháp luất trong các Tỉnh vực khác nhau như dân sự, hình sự, hành chính đười các hình thức đa dang như tu van pháp luất, tham gia tổ tung dé bão vệ quyền, lợi ích hop pháp cho đương sự, đại điên ngoài tổ tung Theo Từ điển Anh - Việt th thuật ngữ “legal aid” được dịch là “trợ cấp pháp lý”. Ngoài ra, trong một số tải liệu khác dich “Legal aid” lả "hỗ trợ pháp luật” “hỗ trợ pháp ly” hoặc “hỗ trợ tư pháp”ˆ.
Như vậy, có rat nhiều cách. dich khác nhau vé thuật ngữ này. Xuất phát từ bản chất, hình thức thực hiện tai nhiễu quốc gia trên thé giới va thực tiễn hoạt đồng này ở Việt Nam trong thời gian qua, “legal aid” được dich là “trợ giúp pháp lý" đang được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp luật và sách báo 6 Việt Nam hiện nay. Tả RAG KE (097), Từ đốn Si Pde, hoi học xã hội BÀ Nột Rega, Bancis (1989), The Tenyformation of Legal Ai’ Comparative en Historical Snes, Oxford ‘ivesdy Des, 89-20, 10 ‘Tro giúp pháp lý là một chỉnh sách bao đảm quyển con người, quyển.
công dân va la một bộ phận của tổng thé các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đến ơn, đáp nghĩa, chính sách dân tộc và tru dai 2 hội của Đăng va Nha nước. Nhiệm vụ nay được giao cho ngành từpháp triển khai từ năm 1997 theo Quyết định sé 734/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ. Luật TGPL lan dat u tiến được Quốc hội ban hành vào năm 2006. Văn bản này đưa ra khái niêm: “Tro ghúp pháp iy là việc cung cấp địch vụ pháp If miễn phí cho người được TGPL theo quy định cũa Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyển, lợi Ích hợp pháp của mình nâng cao hiễu biết pháp luật, ý thức tôn trong và chấp hàmh pháp luật: góp phần vào việc phổ bién, giáo dục pháp iuật, bảo vê công If, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và.
vi pham pháp luật Hiện nay, khái niêm TGPL nêu trên đã được sữa đối bởi Điều 2 Luật TGPL năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) và tác giã cũng hoàn toàn thống nhất với khái niêm nay, theo đó: “Tro giúp pháp if 1a việc cùng cấp dich vu pháp Iÿ miễn phi cho người được TGPL trong vụ việc TGPL theo guy định của Luật này, góp phần bảo đấm quyền con người, quyền công đân trong tiếp cân công If và bình đẳng trước pháp iuật”. So với Luật TGPL năm. 2006 thì với khái niệm mới đã lược bô một số mục dich của hoạt đông TGPL như. nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trong va chấp hành pháp luật, gop phân vảo việc phé biển, giáo duc pháp luật, phòng ngừa, hạn ché tranh chấp và vi phạm pháp luật.
Sự thay đỗi nay cho thay chúng ta sé tập trung vào việc giúp đỡ các đổi tượng nhất định khi giải quyết các vụ việc cụ thé nhằm dim bao sự công bằng, bão vệ có hiệu quả hơn quyền va lợi ích hợp " pháp của họ. Việc thu hẹp mục đích của hoạt đông TGPL là hoàn toàn hợp lý, tăng tinh khả thi trong thực tiến. Nov vậy, điểm nỗi bật của TGPL đó chính lả miễn phí dành cho những. đổi tương theo luật quy định, tức là không phải đối tương nảo cũng được hưởng quyền được hưỡng dich vụ TGPL miễn phí.
Qua khải niêm TGPL đã cho chúng ta thấy được bản chất của TGPL đó chính là cung cấp dich vụ pháp lý miễn phí và chỉ ap dụng cho những người thuộc diện được TGPL, mục đích của TGPL chính la bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Tro giúp pháp lý cho người bi buộc tôi trong TTHS, TGPL theo quy. định tại Khoản 4 Điều 7 Dự thảo Luật mẫu vẻ TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự do Cơ quan phòng chồng tôi phạm va ma tủy của Liên Hop quốc (UNODC) chủ trì soạn thảo quy định như sau: của LHQ “bao gồm tư vấn pháp I}, hỗ trợ và đại điện cho người bi tam giam, bi bắt hoặc bị tit giam, bi Tình nghỉ hay bị cáo bude, hoặc bt buộc tôi và cho các nan nhân, nhiên chứng trong quá trình TTHS, được cùng cắp miễn phi cho những người không cô ati atin kiện hoạch ki lợi ích của công If (interests of justice) đôi hỏi ale vay ơn na, “tro giúp pháp If" cling có chủ đích bao hàm các khái niệm về giáo duc pháp luật, tiếp cận thông tin pháp iÿ và các dich vụ khác được cung cấp cho các đốt tượng thông qua các cơ ché giải quyết tranh chấp và quá trình te pháp phúc hỗi ‘Tro giúp phép lý trong TTHS được thực hiện dưới nhiều hình thức như tư vẫn pháp lý, hỗ trợ vả đại diện tùy thuộc vảo từng giai đoạn tổ tung, trong. từng hoạt động tô tung cu thé sẽ quyết đính hình thức TGPL nao là thích hop nhất, TGPL trong TTHS được cung cấp miễn phi cho một số người tham gia tổ tụng bao gồm: người bi buộc tối, bị hai va người lam chứng, nhưng những người tham gia tố tụng với những tư cách này không mặc nhiên được TGPL mà họ phải thoả mãn một sổ diéu kiên luật định như.
trẻ em, người khuyết tt, khó khăn tài chỉnh. Ngoài ra, TGPL theo quan điểm của LHQ còn hướng đến các mục tiêu như giáo dục pháp luật, tiếp cân thông tin pháp lý và quả trình từ pháp phục hồi Tir đó, ta có thé nhân thay TGPL trong TTHS cứng là một trong những, hoạt động TGPL nhưng sẽ cé những đặc thù riêng, các hoạt động TTHS được thực hiện để lam sang tỏ vụ án, chứng minh phạm tôi, truy cứu TNHS., những hoạt động TTHS được thực hiện bởi nha nước nên dễ xâm hại đến quyên lợi ích hợp pháp cia con người. Do đó, TGPL trong TTHS sẽ khó khăn hơn các Tinh vực khác (hảnh chính, dân sự, kinh tế. và thể đòi hồi người thực hiện TGPL phải có kiến thức, kinh nghiêm pháp luật, am hiểu pháp luât hình sự và TTHS.
Qua tim hiểu của tác giả người thực hiện TGPL tại một số nước trên thể giới bao gốm nhiêu chủ thể như Luật sư Nhà nướcLuật sư công/Luật sư TGPL. Các chủ thể này hiện có ở một số nước như: Philippines, Canada, Israel, Han Quốc, Nam Phí, Ailen, Người thực hiện TGPL còn có thể là luật sư hành nghề tư do/ Luật sw tự theo pháp luật về luật sư: Các luật sư này là thành viên của Đoàn Luuật sự hoặc Hiệp hội luật sư), ký kết hợp đông với tổ chức TGPL để thực hiện vụ. việc TGPL và được trả thù lao theo vu việc (vi du: Bai Loan, Moldova, Nam Phí,. Một số nước thi tỗ chức hành nghề luật sư ký hop đồng với tổ chức TGPL và giao vụ việc cho luật su là nhân viên của tổ chức minh (ví dụ: Indonesia, Mỹ).
Các nước áp dung cách thức huy động x hội thực hiện TGPL thông qua việc ký hợp đồng va hỗ trợ kinh phí thực hiện vụ việc TGPL. 3 đã huy động được nhiễu lực lượng x hội tham gia, déng thời có thé giám sét hoạt động TGPL do xã hội cùng cấp nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL. Để có cơ sử trả kinh phí cho luật sư, các nước déu ban hành biểu phí cho vụ việc, có thể tinh toán cụ thể theo thời gian thực hiện từng vụ việc TGPL hoặc có thé khoán cho từng loại vụ việc. Ngoài ra, một số nước còn sử dụng những người không phải luật sư nhưng có kiền thức pháp luật thực hiện TGPL như, chấp hành viên, Công chứng viên là thành viên của tổ chức công chứng đã đăng ký tham gia TGPL, giảng viên tại các trường đại học luật đã đăng ký tham gia TGPL (azakhtan), giảng viên, trợ lý của Văn phòng luật sư công (Latvia); nhân viên khác (Nhật Bản).
Ho là những người có kinh nghiêm, có trình độ pháp luật nhưng không có chứng chỉ hành nghé luật sư. Hoat động TGPL của họ không phải lả hoạt động nghề nghiệp như luật sư mã chi là hoạt động mang tính chất kiêm nhiệm, bản chuyên tham gia vi muc đích nâng cao hiểu biết pháp luật cho người dân hoặc vi ngiữa vu công đồng, thực tập nghé và nâng cao trình độ. Pham vi TGPL của ho cũng chỉ giới han trong một số hình thức TGPL đơn giản như cung cấp thông tin, tu van pháp luật, soạn thảo một số giấy tờ đơn giản, hòa giải,. ma không được tham gia tô tung với từ cách NBC, người đại điện.
Nhu vay, các hoạt đông của những người thực hiện TGPL (Luật su, công chứng viên, chấp hành viên, nhân viên pháp lý.) theo pháp luật các nước sẽ thực hiện tư van, hướng dẫn, giúp đỡ vẻ pháp luật, đại diện, tham gia tố tung. cho những đối tượng được hưởng dich vụ TGPL của nha nước (như các đối tương: có khỏ khăn vẻ tai chính, không đủ tiễn để chi trả chỉ phí cho Luật sự.) và những người thực hiện TGPL nảy không bắt buộc phải lâm việc tại các cơ quan, tổ chức của nha nước. 4 Theo Luật pháp các nước thi chức danh TGVPL không được sử dung trong quả trình thực hiện TGPL ma các nước trên thể giới chỉ sử dụng những người có chức danh Luật s hoặc những người có kinh nghiệm kiến thức pháp luật như: công chứng viên, gidng viên, chấp hảnh viên. để tham gia vao quá trình TGPL.
Ở Việt Nam tại Điều 19 Luật TGPL năm 2017 quy định “Công dân Việt Nam là viên chức cũa Trg tâm TGPL nhà nước có đã tiêu chuẩn sau Gy có thé trỏ thành TGVPL. Có phẩm chat đạo đức tốt; 2. Có trình độ cử nhân luật trổ lên, 3.