Chương 1H - Tội phạm trong dự thảo đổi BLHS (dự thảo 5 ngày 24/3/2015) sau đây gọi tất là dự thảo 5 của tổ biên. tập tôi có một số góp Ý sau: 1. Về định nghĩa khái niệm tội phạm, là một trong phống khái niệm có ¥ nghĩa đặc biệt của luật hình sự, khái niệm tội phạm lần đầu tiên được quy định tại Điều 8 BLHS năm 1985 vả Điểu 8 BLHS năm 1999 đã kí thừa. nguyên vẹn chỉ có một số sửa đổi không đáng kẻ.
Tuy nhiên qua mấy chục năm tốn tại và tham khảo định nghĩa khái niệm tội phạm trong BLHS của một số nước cho thấy định nghĩa khái niệm tội phạm tại Điều 8 BLHS là quá dài, khong đâm bảo tính ngắn gọn, việc hoàn thiện định nghĩa khái niệm tội phạm lá cẩn thiết. Dự thảo 5 định nghĩa “Tối phạm là hành vi nguy hiém cho xã hội được quy định rong Bộ luật này” nghiên cứa định nghĩa này, tham khảo các định nghĩa trong các dự thảo 3,4, định nghĩa tội phạm trong BLHS một số nước, tôi nhận. thấy định nghĩa tội phạm theo dự thảo 5 là quá khái quát cần bổ sung vào định. nghĩa này một số dầu hiệu sau: dấu hiệu lỗi và dầu hiệu tội phạm được quy di cả trong văn bản luật khác chứ không chỉ được quy định trong BLHS như hi nay.
Sở di cần bỗ sung các đấu hiệu trên vào định nghĩa tội phạm là: Về dau hiệu có lỗi, từ trước đến nay trong luật hình sự Việc Nam và cả trong lý luận đều. khẳng định tội phạm là hành vị. có lỗi (cố ý hoặc v6 ¥), có lỗi là một nguyên. tắc cơ bản của luộc hinh sự Việt Nam, hành.
không được con người thực hiện một cách có ý hoặc vô ý thì không phải 1a tội phạm, bỏ dấu hiệu có lỗi trong định nghĩa tội phạm dé dẫn đến hiểu lâm mọi hành vi nguy hiểm (gây thiệt hại hoặc đe doa gây thiệt hại cho xã hội) đều là tội phạm. Ve dầu hiệu tội được quy định trong văn bản luật khác, thực tiến lập pháp hình sự nước ta trước khi ban hành BLHS năm 1985 vì các lý do khác nhau nên tội phạm được quy định trong rất nhiễu văn bản dưới luật có hiệu lực pháp lý khác nhau dẫn đến không ít khó khăn trong việc nhận thức cũng như áp dụng pháp luật. Khi Nhà nước ban hành BLHS những hạn chế này đã được. phục bởi chúng te đã có một văn bản có hiệu lực pháp lý cao - BLHS là cơ sở pháp lý thống nhất cho việc nhận thức và áp dung pháp luật.Tuy nhiên, những năm đầu của thé ky 21 này cho thấy đời sông xã hội trong nước va quốc tế có nhiều biển động, nhiều tội phạm mới nảy sinh mả BLHS dù đã có sự dự kiến trước vẫn không thể lường trước được (chưa quy định) nên không có căn cứ để xử lý hình sara hành vi đỏ đăng bị xử lý hình sự, vie sửa đồi, bổ sung BL.HS không phải “cứ muốn là được ngay” điều đó lam hạn chế khả năng tự vệ, sự phảnứng kip thời của nhà nước trong đầu tranh phòng - chống tôi phạm, hơn nữa việc nhải sửa đổi, bé sung BLHS thường xuyên phá vỡ tínhôn định tương doi của BLHS như thực tiễn những năm qua ở nước ta.
Việc mở rộng nguồn của luật hình sự 1 (quyđịnh tội phạm và hình phat) trong các văn bản luật chuyên ngành khác là rat cÂn thiết dé xã hội có thé phản ứng kịp thời đối với những tội phạm mới Kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thé giới hiện nay đã cho thấy tội phạm và hình phạt không chỉ được quy định trong BLHS mà còn được quy định trong các văn bản luật khác ngoài BLHS. Từ những phân tích trên, tôi dé nghị bổ sung cấu hiệu có lỗi và dẫu hiệu tội phạm được quy định trong luật khác vào định nghĩa khái niệm tội phạm.Khái niệm tội phạm. “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong Bộ luật này hoặc uật khác” 2. Về phân loại tội phạm, đoạn đầu Điều 9 Dự thảo 5 nêu căn cứ của vide phân loại tội phạm là “tính chất và mức độ ngụy hiểm cho xã hội của hành vi “được quy dink trong Bộ luật.” nhưng lại bò quy định cụ thé hóa tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng như định nghĩa tại khoản 3 Điều 8 BLHS hiện nay là một thiếu sót, theo tôi nên giữ nguyên quy định cụ thể hóa tính nguy hiểm cho xã hội của tùng loại tội phạm như hiện nay.
Ý kiến cho rằng quyđịnh *Tội phạm ít nghiêm trọng. là tội phạm gây nguy hại.” như hiện nay đễ dẫn đến hiểu lầm là gây thiệt hại.là không có cơ sở và thực tế không phải là như. vậy bởi gây nguy hai khác với gây thiệt hại. Cụ thé hóa tính nguy hiểm cho xã hội của tùng loại tội phạm sẽ tạo cơ sở cho việc nhận thức và nhận thức đúng về timg loại tội phạm đã được phân loại, và tính nguy hiém cho xã hội của từng loại tội cũng là cơ sở để quy định loại và mức chế tai đối với mỗi loại tội.
Về chế tải đối với từng loại tội, khoản 1 Điều 9 dự thảo 5 bổ sung hình phạt cảnh cáo và hình phạt cải tạo không giam giữ trong định nghĩa tội phạm ít nghiêm trọng là hoàn toàn chính xác và cân thiết làm cho quy định của luật day đủ và chặt chẽ hơn, tuy vậy khoản 2 quy định “76i phạm nghiêm trong.dén 7 năm tù” và khoản 3 quy định “Tội phạm rất nghiêm trong.dén 15 măm ti?” vẫn còn thiêu sót, bởi quy định như vay đã dẫn đến có sự hiểu lâm tội phạm nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt phải là 7 năm tù và tội phạm rất nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt là phải đến 15 năm tù, và băn khoăn những tội có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 4 năm, 5 năm, 6 năm và 8 năm, 9 năm, 10 năm, 11 năm, 12 năm, 13 năm, 14 năm không, biết thuộc loại tội nao (dù sự hiểu lắm và băn khoăn này là không nhiều). Do đó, để quy định của luật được chặt chẽ, dé hiéu theo tôi nên bổ sung vào khoản 2 Điều 9 cụm từ "trên 3 năm tù” vào trước cụm từ đến 7 năm tù và bộ sung vào khoản3 Điều 9 cụm từ “trên 7 năm tù” vào trước cụm từ đến 15 năm tù. Từ những phân ích tiên Điều 9 dự thảo cần hoàn thiện như sau: Điều 9, Phân loại tội phạm Cin cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này hoặc luật khác, tội phạm được phân thành 4 loại sau đây: 1, Ti phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội ma mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội Ấy là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 3 năm; 2 phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phat đối với tội ấy là trên 3 năm tù đến 7 năm tù; 3. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 7 năm tù đến 15 năm tà; 4.
Tội phạm đặc biệt nghiém trọng là tội phạm cổ ý gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đổi với tội Ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tôi thấy quy định tại khoản 1 Điều 12 Dự thảo 5 bổ sung cụm từ “trừ những tring hợp khác do Bộ luật này. guy định” là cần thiết tránh sự “xung đột” giữa quy định của Phần chung vớ mot số quy địch của Phần các tội phạm bởi có một số tội phạm quy định chủ thể của tội đó là người đã thành niên (18 tuổi) và đây chính là những trường hop khác ma điều luật quy định. Nếu mở rộng nguồn của luật hình sự (ội phạm và hình phạt được quy định cả trong các luật chuyên ngành khác) thì quy định bôi sung phải là “trừ rrường hợp điều luật về tội phạm cu thé có quy định khác” vì tội phạm cụ tế 08 thể được quy định trong BLHS hoặc luật khác.
Về quy định i khoản 2 Điều 12 Dự thảo 5, thực tiễn xét xử nước ta những năm qua cho „ quy định “Người tir đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự vẻ những tội phạm rất nghiêm trong do có ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trong" vừa quá rộng vì cô nhiều tội phạm rắt nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trong nhưng người trong độ tuổi này không có điều kiện thực biện và thực tế cũng chưa cố vụ nào xét xử nên không có trong thống, kê của cơ quan có thấm quyền như: các tội rất nghiêm trong và đặc biệt nghiêm. trọng về tham những, xâm phạm an ninh quốc gia. Hơn nữa, các khái niệm tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là khá trừu tượng với những người trong độ tuôi còn là tré em. Giới hạn chỉ phải chịu TNHS đổi với những tội phạm rất nghiêm trọng do cổ ý hoặc tội còn hạn chế là "bỏ sót” không ít trường hợp cần.
thiết phải xử lý hình sự vì hành. phạm đặc biệt nghiêm trọng, vi đó “có tinh phổ biến” như hành vi trộm cấp tài sản, hành vi cố ý gây thương, tích. Theo quy định hiện nay, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu TNHS đối với hành vi trộm cấp tài sin dưới 200 triệu đồng ‘oe cố ý gây thương tích cho người khác có tỷ lệ thương tật là 60 % trở xuống. BLHS một s6 nước quy định tuoi chịu TNHS "phân tằng” thành hai mức giống thể người trong độ tuổi đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS đối với một số tội cụ thé không phân biệt tội đó là tội ít nghiêm trọng, nghiêm trong, rất nghiêm.
Từ những phân tích trên, tôi kiến nghị quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuỗi phải chịu TNHS về một số tội phạm cụ thé như Dy thảo 3 ngày 12/10/2014.