- 208- thành phần kinh tế, tạo sự bình đăng trong cạnh tranh, xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong kinh doanh giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, giữa các thành phan kinh tế tạo chuyên biến tích cực trong ổn định môi trường đầu tư, tăng tính hấp dẫn nhăm thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm cả vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Chủ động huy động trên thị trường tài chính quốc tế. Đây mạnh thu hút vốn đầu tư gián tiếp thông qua thị trường tài chính trong nước. Khuyến khích cung cấp hàng hóa có chất lượng cho thị trường chứng khoán.
Xây dựng chính sách tài chính phát triển thị trường bất động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và thị trường nhà ở đô thị nhằm giải phóng và phát huy các nguồn lực của đất nước đưa vào đầu tư phát triển kinh tế. Động viên, thu hút rộng rãi các nguồn vốn trong xã hội nhằm tăng đầu tư nâng cao số lượng và chất lượng các dịch vụ công cộng. Đây mạnh thực hiện xã hội hóa bằng cách áp dụng cơ chế tài chính phù hợp đối với các đơn vị sự nghiệp. Hoàn thiện chính sách tài chính khuyến khích nhà đầu tư bỏ vốn cung cấp dịch vụ công ích.
Ba là, khan trương xây dựng và duy trì chính sách phân phối tài chính hợp lý, có chủ định nhằm thúc đây tăng trưởng kinh tế nhanh, dn định và bền vững; Nhà nước cần có những giải pháp quyết liệu để chuyển dịch có hiệu quả cơ cấu kinh tế, cơ cấu tài chính, cơ cấu ngân hàng; thực hiện phân phối và phân phối lại các nguồn thu nhập trong xã hội theo hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động, theo vốn, tài sản, trí tuệ và phúc lợi xã hội; nâng cao hiệu quả trong sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia. Hoàn thiện cơ chế, chính sách phân phối và sử dụng hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả nguồn lực đầu tư của xã hội, thúc đây chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đồng bộ các vùng kinh tế gin với bảo đảm công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo. Tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng tích cực hơn: tăng dau tư phát triển nguồn nhân lực, đầu tư kết cấu hạ tầng. Phân định rõ nội dung và phạm vi chi ngân sách nhà nước, chi từ ngân quỹ nhà nước, tập trung thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, thiệt yêu; triệt dé xóa bao cap trực tiép và hạn chê bao - 209 - cấp gián tiếp qua ngân sách nhà nước, gắn co cấu lại chi ngân sách nha nước với cải cách hành chính cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và day mạnh xã hội hóa dé huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Tiếp tục cải cách tiền lương và thực hiện chính sách tiền lương phự hợp với tiến trình cải cách hành chính nhà nước nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, gắn quyền lợi và trách nhiệm trong thực hiện công vụ đối với công chức; cải cách cơ bản chính sách bảo hiểm xã hội; thực hiện gắn việc đóng góp với hưởng thụ, thực hiện chế độ bảo hiểm y tế toàn dân. Bồn là, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính nhà nước, tạo bước chuyển quan trọng trong bố trí, sử dụng ngân quỹ quốc gia theo hướng tập trung, chống dàn trải. Thực hiện quyết liệt tái câu trúc đầu tư nguồn vốn nhà nước. Quán triệt, tổ chức thực hiện day đủ các giải pháp chống lãng phí, chống phân tán trong bố trí xây dựng cơ bản: Bố trí đủ vốn theo tiến độ đối với các công trình, dự án quan trọng đang thực hiện; bố trí vốn đối ứng các dự án ODA.
Chủ động bố trí ngân quỹ nhà nước được giao dé sớm trả dứt điểm nợ xây dựng cơ bản; kiên quyết đình hoãn những dự án không hiệu quả; không bố trí vốn những dự án không đủ thủ tục đầu tư; không phê duyệt dự án nếu không xác định được nguồn vốn thực hiện. Trong quá trình tổ chức thực hiện, cần quản lý chặt chẽ, không để phát sinh nợ mới, bảo đảm lành mạnh tài chính nhà nước. Năm là, xây dựng khuôn khô pháp lý tài chính nhà nước và quản lý tài chính nhà nước. Sớm ban hành Luật tài chính quốc gia hoặc ít nhất là Luật tài chính nhà nước (hay còn gọi là Luật Tài chính công) để quản lý thống nhất các quỹ tài chính nhà nước, ngân quỹ quốc gia và tài sản quốc gia.
Đảm bảo mọi ngân quỹ quốc gia, mọi tài sản quốc gia phải được huy động, quản lý, phân phối và sử dụng theo quy định của Luật pháp. Quốc hội, cơ quan đại diện của cử tri cả nước, co quan thực hiện quyên lực của nhân dân phải quyết định chính sách tài chính quốc gia, quyết định tài chính nhà nước và giám sát chặt chẽ việc huy động, phân phôi và sử dụng mọi nguôn lực của đât nước, của nhân dân. -210- Sau là, đánh giá lại chủ trương và cách tiến hành xã hội hóa trong hoạt động tài chính của nhà nước. Day mạnh xã hội hoa các lĩnh vực van hóa, xã hội, tăng nguồn lực cho đầu tư phát triển, thu hẹp phạm vi trang trải của ngân sách nhà nước theo mô hình hợp tác công tư PPP.
Tiếp chuyển mạnh từ cơ chế nhà nước hỗ trợ cho các đơn vị cung ứng dịch vụ sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng trong những lĩnh vực nhiệm vụ thích hợp. Công bố công khai, minh bạch mức thu phí dịch vụ tại các cơ sở dịch vụ công lập và ngoài công lập. Điều chỉnh lại cơ cầu đào tạo theo ngành và lãnh thổ, gắn đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Bay là, tiếp tục đây mạnh cải cách hành chính nâng cao năng lực quản lý tài chính nhà nước; thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng; tăng cường công tác thanh tra kiểm tra tài chính.
Thực hiện phối - kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan thanh tra, kiêm toán, kiểm tra tài chính, tăng cường công tác kiểm tra giám sát đối với đơn vị thu nộp ngân sách cũng như đơn vị sử dụng ngân sách. Thực hiện chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những khoản chỉ sai chế độ, thất thoát lãng phí ở đơn vị được giao phụ trách. Thực hiện chế độ công bố công khai ngân sách nhà nước các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ, các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách, các doanh nghiệp có vốn nhà nước, các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước, các quỹ có nguồn đóng góp của nhân dân dé tăng cường giám sát của các đoàn thé xã hội, người lao động và nhân dân. Rà soát các thủ tục hành chính, quy định rừ thủ tục, quy trình, thời gian thực hiện và chế độ trách nhiệm của từng bộ phận cán bộ trong việc thực hiện thu, chi ngân sách, hoàn thuế.
Thực hiện đồng bộ và quyết liệt các giải pháp trên sẽ góp phần nâng cao tiêm lực và lành mạnh hóa nên tài chính quôc gia. KET CAU PHAP LUAT TÀI CHÍNH CÔNG VA NHỮNG YEU CÀU CÓ TÍNH NGUYÊN TAC TRONG VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUAT TÀI CHÍNH CÔNG VIỆT NAM TS.PHẠM THỊ GIANG THU ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NOI Khái quát về tài chính công Theo nghĩa rộng nhất, tài chính công được kết cầu nhằm đảm bảo mục đích của nó bao gồm hoạt động thu và chi. Hoạt động thu được thực hiện thông qua các khoản thu từ thuế, phí, đầu tư của nhà nước, v., với những quy trình thu được quy định khác nhau. Hoạt động chi được thực hiện thông qua các khoản chi được dự liệu cụ thé nhằm đảm bảo chức năng, hoạt động của bộ máy nhà nước với những điều kiện chi nhất định.
Xem xét cau trúc tài chính công theo nghĩa rộng thường được sử dụng để thống kê, đánh giá các hoạt động tài chính công trong quản lý kinh tế. Hàng năm, Ngân hàng thế giới, Liên minh Châu Âu và các tổ chức quốc tế khác thường thống kê các số liệu tài chính công theo cấu trúc này. Theo nội dung quản lý, cấu trúc tài chính công được hiểu là sự phân chia các bộ phận tài chính công của một quốc gia gắn liền với việc sử dụng các quỹ công mà nhà nước có quyền chi phối, bao gồm Quy NSNN và các Quỹ tài chính ngoài ngân sách và Nợ công. Quỹ NSNN là quỹ lớn nhất của nhà nước trong cấu trúc tài chính công.
Hau hết các nguồn thu đều được tập trung vào quỹ này để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Hàng năm, việc hình thành, sử dụng Quỹ NSNN là thông qua việc xây dựng và thực hiện ngân NSNN. Theo Rebecca Simson và cộng sự (2011), việc xây dựng và thực hiện NSNN được gọi là chu trình ngân sách (The budget cycle) với các khâu cơ bản như xây dựng NSNN, thực hiện -212- NSNN, hoạt động kế toán và báo cáo, cuối cùng là hoạt động giám sát”. Bên cạnh đó ở các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, Quỹ tài chính ngoài ngân sách (TCNNS) đã va đang giữ một vai trò quan trong trong hoạt động tài chính công.
Đặng Văn Du (2011), Trưởng Khoa Tài chính công - Học viện Tài chính thì: “Các Quỹ TCNNS là các quỹ tiền tệ tập trung do nhà nước thành lập, quản lý và sử dụng nhằm cung cấp nguồn lực tai chính cho việc xử lý những biến động bat thường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và để hỗ trợ thêm cho NSNN trong những trường hợp khó khăn về nguồn tài chính””. Bộ phận thứ ba trong cấu trúc tài chính công theo cách phân loại theo nội dung quản lý là ne công. Khái niệm nợ công không dễ dàng định nghĩa bởi tính phức tạp trong quá trình đánh giá những tiêu chí của để xây dựng khái niệm này. Tuy nhiên, hầu hết các cách tiếp cận đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó.
Chính vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ nhà nước hay nợ Chính phủ. Kết cầu pháp luật tài chính công ở Việt Nam Do sự quan trọng của lĩnh vực tài chính công nên hau hết các nước đều có hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này với những mức độ khác nhau.