ĐỖ NGÂN BÌNH Ở VIET NAM PHAP LUẬT VỀ DINH CONG VÀ GIẢI QUYẾT DINH CONG Ở VIỆT NAM MÃ SỐ: TPA - 06 - 29 386-2006/CXB/09-57/XBTP/NXBTP TS. ĐỖ NGÂN BÌNH PHAP LUẬT VỀ DINH CONG VÀ GIẢI QUYẾT BINH CONG Ở VIỆT NAM _ THƯ VIỆN ˆ | TRUONG ĐẠI HỌ C LUẬT HÀ NỘI PHÒNG MUCI N __. ——— ee =f : we | NHA XUAT BAN TU PHAP HA NOI - 2006 LỜI GIỚI THIỆU Đình công là một trong những quyền cơ bản của người lao động trong nền kinh tế thị trường. Quyền đình công được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá của Đại hội đồng Liên hợp quốc được thông qua ngày 16/12/1966.
Việt Nam đã tham gia Công ước này vào năm 1982. Sau đó, Nhà nước Việt Nam đã cụ thể hoá các quy định về đình công trong Bộ luật lao động năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động và một số nghị định hướng dẫn. Trong thực tế, đình công thường được những người lao động coi như “va khữ đấu tranh với người sử dụng lao động để đạt những yêu sách gắn với quan hệ lao động. Đình công là vấn đề nhạy cảm.
Sự xuất hiện của đình công có thể gây ảnh hưởng đến chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội, môi trường đầu tư, kinh doanh. Do tính chất phức tạp của đình công nên ngay khi hiện tượng đình công xuất hiện ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, việc nghiên cứu, ban hành các quy định cụ thể về đình công và giải quyết đình công để kịp thời điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong quá trình đình công đã được chủ động triển khai. Sau gần 10 năm thực hiện, các quy định về đình công và giải quyết đình công đã bộc lộ một số vướng mắc. Thực tế cho thấy, những người lao động khi đình công chưa tuân thủ các quy định về đình công.
Điều đó đã làm ảnh hưởng xấu tới quan hệ lao động, ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, gây thiệt hại cho người sử dụng lao động và người lao động. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật về đình công và giải quyết đình công để pháp luật có thể đi vào cuộc sống, được các chủ thể tự giác chấp hành và tăng cường pháp chế. Ngày 15/6/2004, Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ V đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự. Kể từ ngày 01/01/2005, việc giải quyết các tranh chấp lao động sẽ được tiến hành theo trình tự tố tung được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn sách: “Pháp luật vé đình công va giải quyết đình công ở Việt Nam” của TS. Đỗ Ngân Bình - giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội. Cuốn sách cung cấp cho bạn đọc cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật đình công và giải quyết đình công, một số quan điểm mới trong việc đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn khách quan trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay. Xin trân trọng gidi thiệu cùng ban đọc! Tháng 8 năm 2006 NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP Chương | |.
Đình công trong điều kiện kinh tế thị trường Chương í NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM I. ĐÌNH CONG TRONG DIEU KIỆN KINH TẾ THỊ TRUONG 1. Dinh công - hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường | Nhận định về kinh tế thị trường, Mác và Anghen cho rằng: “Sự phân chia các lao động sản xuất khiến cho sản phẩm của từng loại lao động chuyển thành hàng hoá đối uới nhau, buộc chúng làm thị trường lan cho nhau”9'. Lê nin cũng nhận định: “Thi trường la một phạm trù của binh tế hang hod”; “Hé ở đâu va khi nào có phân công xa hội va san xuất hang hoá thì ở đó va khi ấy, có “thị trường”; “quy mô cua thị trường gắn chặt voi trình độ 9, 66 C.
Anghen toàn tập, tập 3, Nxb. Tiến bộ Matxcova, 1976, tr. VI, Lê nin, tap 1, Nxb. Tiến bộ Mátxcơva, 1974, tr.
Pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam TS. Đỗ Ngân Bình chuyên môn hoá cua lao động xã hội”. Nhu vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, kinh tế thị trường luôn gắn với kinh tế hang hoá. Không thể tổn tại kinh tế hàng hoá mà không có kinh tế thị trường, và ngược lại cũng không có kinh tế thị trường nếu không có kinh tế hàng hoá.
Trong nền kinh tế thị trường tổn tại hệ thống thị trường là nơi diễn ra các hoạt động lưu thông hàng hoá. Căn cứ vào thuộc tính của các hàng hoá, có thể phân chia thành những loại thị trường khác nhau. Trong số đó có thị trường mua bán một loại hàng hoá đặc biệt là hàng hoá sức lao động- thị trường lao động. Thi trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi sức lao động, thông qua quan hệ mua bán giữa người lao động (người bán) và người sử dụng lao động (người mua).
Về vấn đề này, C. Mác từng nhận định: “Tai sao người lao động tự do ấy lai đứng đối diện uới người chủ tiên trong lĩnh uực lưu thông, van dé ấy không lam bận tâm người chủ tiên la người đã tìm thấy thị trường lao động uới tính cách là một chỉ nhánh đặc biệt cua thị trường hang hoá”®. Kinh tế học phương Tây cho rằng thị trường lao động có một số nét đặc trưng so với thị trường hàng hoá thông thường, đó là: 1) Trong thị trường lao động, người sở hữu © VJ. Lê nin, tập 3, Nxb.
Tiến bộ Mátxcơva, 1976, tr. Ănghen toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị quốc gia, H. Đình công trong điều kiện kinh tếthị trường sức lao động (người bán) ở vào địa vị không thuận lợi, không thể đàm phán bình đẳng với chủ thuê mướn (người mua); ii) Giá cả (tiền công) của sức lao động không chỉ là thù lao của việc cung cấp sức lao động hiện thời, mà còn bao gồm cả thù lao của thời kỳ dài bồi dưỡng và đào tạo kỹ thuật cho người lao động; iii) Điều kiện thuê mướn sức lao động không chỉ là bao nhiêu tiền công, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác: thời gian công tác dài hay ngắn, hoàn cảnh công tác tốt hay xấu; 1v) Hoạt động thuê mướn lao động không chỉ do chủ sử dụng lao động và công nhân tự do quyết định, mà còn chịu ảnh hưởng chi phối của các yếu tố khác như: pháp luật lao động, ảnh hưởng của các nghiệp đoàn công nhân và đoàn thể của chủ sử dụng lao động?'.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của mỗi thành viên trong xã hội không tách rời nhau do mối liên hệ tự nhiên về sản xuất, trao đối, phân phối, tiêu dùng. Các mối quan hệ này làm nảy sinh những lợi ích chung, những quan hệ phụ thuộc gắn chặt với nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội, ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi bởi các quy định của pháp luật. Xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động càng rõ nét, mối quan hệ phụ thuộc ® Triệu Thạch Bảo va Dương Mãn, Ban uề kinh tế thị trường Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, H.
11 Pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam TS. Đỗ Ngân Bình giữa các cá nhân càng chặt chẽ. Khi lợi ích của người lao động tăng lên thì lợi nhuận của người chủ tư liệu sản xuất bị giảm xuống và ngược lại”. Người lao động do những nhu cầu vật chất và tinh thần thiết thân hàng ngày đã tham gia quan hệ lao động để có thu nhập thoả mãn các nhu cầu đó.
Trong quan hệ lao động, lợi ích của người lao động chủ yếu biểu hiện dưới dạng tiền lương, tiền thưởng và một số lợi ích khác. Những lợi ích này là động lực cơ bản thúc đẩy hoạt động của người lao động. Trong quan hệ lao động còn tồn tại lợi ích của người sử dụng lao động. Việc thu lợi nhuận của người sử dụng lao động gắn liền với việc chiếm hữu giá trị thặng dư thu được sau quá trình sử dụng lao động.
Để tăng lợi nhuận, người sử dụng lao động thường tìm cách giảm tiền lương, tăng thời gian làm việc hay cắt giam các chi phí cho việc dam bao an toàn - vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người lao động và là một trong các nguyên nhân cơ bản tạo nên mâu thuẫn trong quan hệ lao động bởi quan hệ lao động cũng giống như “các quan hệ binh tế cua một xã hội nhất định nào đó, biểu hiện trước hết dưới hình thức loi ích”), ® Phạm Thi Xuân Hương, Vấn đề đình công của công nhân ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, H. Ănghen toàn tập, tập 18, Nxb. Chính trị quốc gia, H.
Dinh công trong điều kiện kinh tế thị trường Khi xác lập quan hệ lao động, các bên phải thoa thuận với nhau về tiền lương, thời giờ làm việc và các điều kiện sử dụng lao động khác. Sự thoả thuận có thể diễn ra nhiều lần trong suốt quá trình tồn tại quan hệ lao động, khi một trong hai bên cam thấy cần phải sửa đối, bổ sung hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể thì sự thoả thuận lại diễn ra”. Trong quá trình thoả thuận, do vị trí yếu thế hơn của người lao động, do ảnh hưởng của tương quan cung cầu sức lao động, do sức ép của vấn đề việc làm và thu nhập, người lao động thường phải chấp nhận những điều khoản không có lợi cho chính mình. Sau khi hợp đồng lao động đã được thoa thuận, sức lao động của người lao động sẽ được kết hợp với tư liệu sản xuất của người sử dụng lao động để tạo ra giá trị và giá trị thang dư.
Xét về mặt ban chất, quan hệ lao động là quan hệ mua bán sức lao động, 6 đó người lao động muốn bán sức lao động với giá cao, ngược lại, người sử dụng lao động muốn mua sức lao động với giá thấp.