phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận án gồm có. hai chương: * CHUONG I: Các tranh chấp thường phat sinh từ HDMBQTHH * CHUONG 2: Các hình thức giải quyết tranh chấp phat sinh từ HDMBQTHH. Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hoá và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HDMBQTHH là một vân đề phức tạp và mới mẻ không chi đốt với thương nhân Việt Nam mà còn đốt với bản thân người viết luận án này. Với sự nổ lực và cố gang lớn của mình, dé tài cũng chi đề cập đến những vân đề pháp ly chung nhất vé những hình thức giải quyết có ưu thé các tranh chấp phat sinh từ HDMBQOTHH va vi thế, luận án khó tránh khỏi những hạn chế nhất định.
Tác gia chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và giảng day của các giáo sư, tiến sĩ, các thầy cô giảng dạy khoa sau Đại học - Truong Dai học Luật Hà Nội; đặc biệt là PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết đã tận tình hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận dn này. CHUONG ! CAC TRANH CHAP THUONG PHAT SINH TU HOP DONG MUA BAN QUOC TE HANG HOA Dưới góc độ pháp lý, tranh chap nói chung được hiểu là những tranh chấp về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên trong một quan hệ xã hội nhất đính được pháp luật điều chỉnh. Có nhiều loại tranh chấp khác nhau nay sinh nhưng nhìn chung có thé phân thành hai loại: tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh tế. Tranh chấp dan sư là những tranh chấp nay sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự.
Dac thù của loại tranh chấp này là mang tính tài sản hoặc nhân thân phi tài sản và việc giải quyêt chúng tuân theo quy trình tố tụng đân sự. Bản chất pháp lý của tranh chấp dân sự được thể hiện rõ ở chỗ: Tranh chấp chỉ xuất hiện trong lĩnh vực sinh hoạt, tiêu dùng; chủ thể của tranh chấp rộng (pháp nhân. thể nhân, các đoàn thể .); giá trị của tranh chấp không lớn như trong tranh chấp kinh tê; hậu qua của tranh chấp chỉ tác động trực tiép đên cá nhân chủ thể. Tranh chấp kinh tế là những tranh chấp phức tạp nảy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Quan hệ kinh tế chủ yếu là những quan hệ mang tính tài sản do đó bản chất của tranh chấp kinh tế cũng mang tính chất tài sản. Pháp luật của một số nước như Pháp, Đức đều có qui định rõ những tranh chấp nào là tranh chấp kinh tế, việc qui định này đều xuất phát từ bản chất của hoạt động kinh tế đó là những hoạt động sản xuất kinh doanh không những đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng mà còn nhằm mục đích lợi nhuận. Bản chất pháp lý của tranh chấp kinh tế thể hiện rõ ở các khía cạnh chủ yếu như tranh chấp kinh tế phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh; chủ thể chủ yếu của tranh chấp kinh tế là các nhà kinh doanh; tranh chấp kinh tế thường có giá trị tài sản lớn hơn tranh chấp dân sự cho nên hậu quả của tranh chấp kinh tế có thể tác động mạnh mẽ đến các hoạt động kinh tế và đời sống xã hội. Việc phân biệt tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh tế nhằm áp dụng các cơ chế giải quyết cho phù hợp để bảo vệ quyền lợi cho bên bi hai, khắc phục hậu qua của hành vi vi phạm.
Nếu như tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Toà dân sự và được giải quyết theo trình tự quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền của Toà kinh tê và được eiải quyết theo trình tự quy định trong Pháp lệnh thủ tic giải quyết các vụ an kinh tế hoặc Trọng tài kinh tế giải quyết theo các quy tac tô tụng của mình. Tranh chấp phát sinh từ HDMBQTHH là một dang tranh chấp kinh tế. hết sức phức tap song có thể chia các tranh chấp đó thành hai loại dựa trên tiêu chí chủ thể. của hợp đồng.
Đó là những tranh chấp phát sinh clo bên bán vi phạm hợp đồng và những tranh chap phat sinh do bên mua vi phạm hop đồng. CÁC TRANH CHAP PHÁT SINH DO BEN BAN VI PHAM HỢP ĐÔNG.YTranh chap phat sinh do héu Dan Không giao hang, giao Hang cham, không: giưo hoac giao chậm chứng từ Hen quan dén hang hoa. Li, Khủng giao Hang: Trong quan hệ mua bán hàng hoá, giao hàng là nghĩa vụ bất buộc của bên bán khi bên mua thục liện day du những nghĩa vụ của minh, Vì vậy khong giao hàng, là hành vị ví phạm của ngời bán về điều khoản cơ bản của HDMBOTHEL Đây là diéu kiện dé ben mus có thể tuyên bố huỷ hợp đồng và đòi bồi thường thiệt har mà phap Trật hần hết các quốc gia trên the piới quy định. đặt ra là người ban piao ling vào thời điểm nào được coi là đúng thời han giao hàng trong THNTBỢTLIEH? Phát luật của một so nước quy định thời hạn giao hàng là một trong những nội dung chủ yếu của hợp đống; mà theo đó các bên có thể thoả thuận một ngày cụ thể hay một khoảng thời pian cụ thể để bên bán thực hiện nghĩa vụ giao hang.
Theo Công Ước Viên 1980 thì người bán phải giao hàng dúng thời gian đã được ấn định trong hợp dong, nếu không giao hang dung hop đồng, bên bán bị coi là ví phạm chủ yêu hep déng. Không ít những tranh chấp về thời diém giao hàng phát sinh từ việo sử dụng các thuật ngữ không cụ thể, thiếu chính xác khi ký kết hợp đồng. Chẳng hạn dùng thuật ngữ piao ngay (Prompt): 1-6 ngày; piao ngày lập túc (immediately): 7-20 ngày; giao càng sớm càng, tot (as soon as possible) tính từ thời diểm ký kết hop dồng. Nhu vậy, khí hết thời hạn giao hang da dược quy định trong hop đồng ma bên bán vẫn không giao hang thì bị coi là châm giao hàng, Pháp luật của các nước, Việt Nam và các Công Ưúc Viên dcu có quy dink vide người mua có thể gia hạn (thêm một thời hạn bo sung hợp lý dé người bán thực hiện nghĩa vụ giao hàng của minh.
Trong tinh vị: mua ban hàng hoá quốc tế, thông thường việc bên bán không, giao hàng dũng hợp dong thì các tiên có thể dầm phán, thương lượng, với nhau vẻ một khoảng, thời gian hợp lý de bên bán khác phục sự ví phạm của mình. Tuy nhiên, thực Gén kinh doanh cho thấy nhiều trường, hợp đã hết thời giàn bo sung mà bên bán vẫn không, giao hang hoặc có khi dang trong thôi hạn dược bo sung những bên bán tuyên bố không giao hàng do nhiều nguyên nhân khác nhau thì bên mua hoàn toàn có quyền huỷ hợp đồng, và yêu cầu bên ban bồi thường thiệt hại. ^ a Có ý kiến cho răng, việc gia hạn thêm một thời hạn hợp lý là nghĩa vu bat buộc dối với bên mua trong tình huông bên bán chậm giao hàng. Thiết nghĩ, điều khoản về thời hạn giao hang là một trong những nội dung chủ yếu của hợp đồng, theo đó các bên có thể ân định người bán phải giao hàng vào một ngày cụ thể hoặc trong khoảng một thời hạn nhất định mà bên bán vẫn không giao hang thì bị coi đó là sự ví phạm cơ bản và người mua có quyển đồi bồi thường thiệt hại.
Khoản | Điều 47 Công Ước Viên 1980 quy định: “Người mua có thể cho người bán thêm một thời hạn bổ sung hop lÝ đểngười ban thực hién nghia vu" và tại Khoản | Điều 313 Bộ luật dan sự Việt Nam quy định :”KIU nghĩa vu đâu xứ chỉ được thực hiện, thi HUHỒI CÓ quyén có thể gia han đểngười có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ" đã chứng tô việc gia thêm thời hạn khí người bán cham giao hang là quyển của bên mua chứ không thể là nghĩa vụ bắt buộc. Điều dé thể hiện sự lĩnh động trong quan hệ mua bán, bảo đảm quyền lot của các bên cũng như góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông, dân sự giữa các nước nói riêng và nền thương, mại quốc tế nói chung. Trường, hợp bên bán không giao hàng và bên mua có thể tuyên bố huỷ hợp đồng thì theo Công Ước Viên quy định bên mua phải gia hạn thêm thời gian gia hạn đó mà bên ban van không, giao hang. Như vậy, việc gia hạn của bên mua chỉ trở thành nghĩa vụ bắt buộc khí bên mua muốn ap dụng chế tài nặng nhất đốt với bên bán là huỷ hợp đồng.
Luật Thương mai Việt Nam quy định bên mua tuyên bố huỷ hợp đồng, nếu việc không, giao hàng của bên bán là diều kiện để huỷ hop đồng mà các bên đã thoả thuận đồng thời bên mưa có nghĩa vụ bắt buộc phải thông báo cho bên bán trước khi tuyên bố huỷ hợp đồng (Điều 235, Điều 236- Luật Thuong mại Việt Nam). Thực tiễn tranh chấp phát sinh từ việc không, pian hàng do nhiều nguyên nhân khác nhàn, Chang han, bên bán hàng ký hop đồng mua ban voi bên thứ ba và bên thứ ba vi phạm hop dong hoặc gap trường hop bất kha kháng nên bên bán không có hàng dé giao đúng thời hạn hợp đồng, bên mua kiện đòi bồi thường thiệt hại. Có trương hợp bên bán chấp nhận vi phạm hợp đồng với bên mua khi họ gap một doi tác khác có lợi cho mình trong thương, vụ này cũng như trong quan hệ Thương mai sau này nên bên bán không giao hàng, và tranh chap phát sinh. Gtao hàng cham: Thông thường hàng hoá mua bán được vận chuyển qua biên piới của nhiều nước nên van đề bên bán giao hàng châm cho bên mua là một vi phạm khá phổ biến trong lĩnh vực mua ban hàng hoá quốc tế, Việc giao hang chậm có thể đo lôi của bên bán nhưng trong nhiều trường hợp do tau chậm tối dia điểm giao hàng mà việc thuê tau vận chuyển lại là nghĩa vụ của người mua hang nên việc giao hang chậm khong phái do lỗi của bên bán.
Đây là một trong những nguyên nhân dan đến tranh chấp của hai bên. Trong thực tiễn ký kết hợp đồng, các bên thường áp dụng các điều kiện cơ sở giao hang quy định trong Incoterms của phòng Thương mại Quốc tế. Incoterms là những tập quán Thương mat Quốc tế dược tập hợp lat song nó chỉ mang tính chất tuỳ ý, khong mang tính bắt buộc do đó các bên muốn sử dụng Incoterms vào công việc của mình thì trong hợp đồng cần ghi rõ là áp dụng Incoterms, ví dụ theo Incoterms 990 (điều kiện cơ sở giao hàng phổ biến hiện nay).