CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ 1. Khái niệm áp dụng pháp luật giải quyết vụ án Hôn nhân và gia đình Theo quy định của pháp luật về HN&GD, cũng chính là luật hiện hành và trực tiếp điều chỉnh các chế định liên quan đến HN&GD thi: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của của luật HN&GD về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, Ly hôn là việc chấm đứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án [23]. Từ đó, có thé hiểu hôn nhân là sự gắn kết giữa một người nam và một người nữ tạo thành mối quan hệ vợ chồng, tạo lập nên gia đình đó chính là “tế bào” của xã hội.
Quan hệ này được pháp luật công nhận và bảo vệ dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện và bình đăng, không trai với đạo đức xã hội, không trai với các quy định của pháp luật. Hôn nhân được xác định bởi hai sự kiện pháp lý đó là: kết hôn và cham dứt hôn nhân (ly hôn). Khái niệm đặc điểm áp dụng pháp luật Áp dụng pháp luật chính là một hình thức thực hiện pháp luật. Do vậy, trước tiên cần đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật là gì? 1.
Khái niệm và vai trò của thực hiện pháp luật Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Pháp luật XHCN là hệ thống các quy phạm pháp luật (các quy tắc) có tính chất bắt buộc chung do nhà nước XHCN ban hành (hoặc thừa nhận) theo một trình tự nhất định, và bảo đảm bằng sức mạnh của mình, trong đó đặc biệt là sức mạnh cưỡng chế, trực tiếp thé hiện ý chi va bảo vệ lợi ích của giai cap công nhân và nhân dân lao động; là công cụ có hiệu lực nhất dé điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ là công cụ quản lý xã hội cần thiết mà còn là vũ khí chính trị dé chống lại thé lực thù địch. Pháp luật XHCN được thể chế hoá từ đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản, là phương tiện cho Đảng cộng sản lãnh đạo xã hội. Pháp luật là cơ sở pháp lý dé Nhà nước tổ chức và hoạt động, là công cụ dé Nha nước quản lý xã hội, bao vệ quyền công dân, quyền con người, là phương tiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, phát huy dân chủ và thiết lập quan hệ xã hội mới.
Pháp luật chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được thực hiện và thực hiện có hiệu quả trong đời sống hằng ngày. Nếu pháp luật không thực hiện được trong đời sống hằng ngày thì sẽ làm giảm hoặc mất ý nghĩa, giá trị của pháp luật. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao vai trò của pháp luật, Người từng nhận định răng: “Một nhà nước vững mạnh, có hiệu lực phải là một nhà nước làm cho mọi người dân biết sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” [28]. Tư tưởng của Người cũng cho thấy rõ quan điểm Pháp luật phải dân chủ, nhân văn và vì con người.
Kế thừa tư tưởng ấy, Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” [22, Điều 16]. Nhà nước pháp quyền chỉ phát huy hiệu lực của mình khi biết kết hợp giáo dục đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội và nhà nước, nghĩa là phải hài hòa và cân băng giữa “đức trị” và pháp trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nhân hậu, giản dị, có tình yêu thương con người bao la nhưng không phải là người nhu nhược mà trái lại Người rất nghiêm khắc, không bao che sai phạm khuyết điểm cho một ai. Người yêu cầu những cán bộ mà làm công vụ về thi hành pháp luật phải công tâm, minh bạch, nghiêm minh.
Người đã nêu cao tỉnh thần trách nhiệm, đức thanh liêm của con người cách mạng nói chung và của cán bộ tư pháp nói riêng, không vì cái lợi trước mắt của bản thân mà quên di lợi ich cao cả của Quoc gia, dân tộc. Trong lý luận nhà nước và pháp luật, khái niệm thực hiện pháp luật đã được quan tâm nghiên cứu và có sự thống nhất về cơ bản. Thực hiện pháp luật là hoạt động đưa pháp luật vào cuộc sống, với những quá trình, cách thức làm cho các qui phạm pháp luật trở thành hành vi, xử sự thực tế của các chủ thể pháp luật. Vai trò của thực hiện pháp luật được thể hiện qua 4 hình thức như sau: + Tuân thi pháp luật, con gọi là tuân theo pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiễn hành những hành vi mà pháp luật ngăn cấm.
Các chủ thể pháp luật phải có nghĩa vụ mang tính chất pháp lý là phải tuân thủ pháp luật, không được thực hiện những hành vi mà pháp luật cam. Khi mà nghĩa vụ ay không được thực hiện thì ho chắc chắn sẽ bị xử ly bởi các chế tài trong quy phạm pháp luật hoặc chịu hậu quả bằng một hình phạt cụ thể. Vị dụ: Một người phạm tội “Trộm cắp tài sản” thì tùy từng trường hợp, tùy mức độ vi phạm mà bị xử lý theo các quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Các chế tài đó mang tính bắt buộc chung nghĩa là buộc các chủ thê phải thực hiện từ đó mà việc tuân thủ pháp luật sẽ có tính răn đe cũng như giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội, từ đó mỗi chủ thé sẽ nhận thức được và sẽ không vi phạm những điều mà pháp luật đã cắm.
Tuy vậy, cũng có trường hợp, cá nhân hay tô chức tuy đã nhận biết được các quy định cắm của pháp luật nhưng vẫn cố tinh vi phạm do động cơ nao đó hoặc dé đạt được mục đích mà thấy rằng có lợi cho bản thân. Cũng tương tự ví dụ vừa nêu, khi Pháp luật cắm hành vi “mua, bán trái phép chat ma túy”. Do đó, Chủ thé “không được thực hiện hành vi mua, bán chất ma túy” được xem là tuân thủ pháp luật. Và chủ thể thực hiện hành vi mua, bán chất ma túy được xem là không tuân thủ pháp luật, như vậy chủ thê đó sẽ phải chịu trách nhiệm về hình sự và bị xử phạt bằng chế tài được quy định trong bộ luật hình sự hiện hành.
+ Thi hành pháp luật, còn gọi là chấp hành pháp luật là hình thức trong đó các chủ thé quan hệ pháp luật thực hiện những hành vi mà pháp luật quy định được thực hiện trong những hoàn cảnh, những quan hệ pháp luật mà pháp luật đã dự liệu cụ thể. Đây là hình thức thực hiện pháp luật chủ động và tích cực bằng các hành vi cụ thể của các chủ thể quan hệ pháp luật. Chủ thê thực hiện hình thức thi hành pháp luật này là tất cả các cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà nước, các cá nhân, tô chức và mọi công dân trong xã hội. Ví dụ: Pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân/ thuế thu nhập doanh nghiệp.
Do đó, nêu không thuộc trường hợp miễn thuế/đối tượng không chịu thuế thì chủ thể đóng thuế được xem là “thi hành pháp luật”. + Sw dụng pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép. Trong công cuộc xây dựng và đảm bao Nhà nước pháp quyên, thì sử dụng pháp luật mang tinh xã hội vô cùng to lớn, nó thé hiện tính tích cực pháp lý của cá nhân, tô chức, đặc biệt là đối với công dân trong việc sử dụng một cách có văn hóa pháp luật các quyền hiến định và luật định của mình. Bằng ý chí của mình, các chủ thể tự cân nhắc xem có nên dùng các quyền chủ thé mà đã được pháp luật bảo vệ hay không, nghĩa là không bị ép buộc bởi một quy định hay một tác nhân nào khác.
Điều này cho thay rang, mỗi chủ thé đều được pháp luật trao cho các quyền nhất định, nhưng các chủ thé này có thé thực hiện hoặc không thực hiện quyền đó, đây chính là đặc điểm để so sánh giữa hình thức sử dụng pháp luật so với các hình thức thực hiện pháp luật khác. Vi dụ: Khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị B xâm phạm, A có quyền khởi kiện B ra tòa án vì pháp luật trao cho A quyền được khởi kiện Bra tòa án có thâm quyền. Khi đó, A được xem là đang “sử dụng pháp luật”. + Ap dụng pháp luật, là hoạt động mang tính tổ chức, thé hiện quyên lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyên, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
Ví dụ: Khi A khởi kiện B ra tòa, Tòa án đó có trách nhiệm xem xét và thụ ly đơn khởi kiện của A. Theo đó, Toa án được xem là cơ quan “áp dụng pháp luật” Hiện nay, về góc độ học thuật thì các học giả Việt Nam có những quan niệm về “áp dụng pháp luật” và có những cách tiếp cận khác nhau. Nhưng dù có suy nghĩ như thế nào thì vẫn tồn tại một khái niệm chung thừa nhận rằng: Áp dụng pháp luật là hình thức hoạt động mang tính tô chức - quyền lực của Nhà nước được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước, cá nhân có thâm quyền (được nhà nước trao quyền) theo thủ tục, trình tự do pháp luật quy định nhằm cá biệt hoá những qui phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thé đối với các cá nhân, cơ quan và tô chức cụ thé. Đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình - Ấp dụng pháp luật + Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước.
Vì vậy, hoạt động này chỉ do những cơ quan nhà nước, người có thâm quyên tiến hành. Hoạt động ADPL chỉ do những cơ quan Nhà nước hay nhà chức trách có thâm quyên tiễn hành. Cơ quan nhà nước, cá nhân có thâm quyền được thay mặt nhà nước thực hiện hoạt động ADPL theo đúng nhiệm vụ và chức năng của họ mà pháp luật đã quy định.