Chương 1. Khái quát chung về trọng tài và thoả thuận trọng tài thương mại quốc tế Chương 2. Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thoả thuận trọng tài thương mại quốc tế Chương 3. Thực tiễn thực thi thoả thuận trọng tài thương mại quốc tế, các kiến nghị hoàn thiện và giải pháp khắc phục i.
CHUONG 1 KHAI QUAT CHUNG VE TRONG TAI VA THOA THUAN TRONG TAI THƯƠNG MAI QUỐC TẾ 1.1 Trọng tài thương mại quốc tế với sự phát triển của thương mại quốc tế 1.1 Khái niệm trong tài thương mại quốc tế Một cách khái quát, trọng tài được thừa nhận là một phương thức giải quyết tranh chấp bằng còn đường tư nhân (không thông qua cơ quan tư pháp quốc gia) do các bên lựa chọn. Vì vậy, trọng tài thương mại quốc tế cũng được hiểu là phương thức giải quyết các tranh chấp trong thương mại quốc tế thông qua trọng tài Song cụ thể thế nào thì mỗi quốc gia lại có những cách nhìn khác nhau về tính thương mại và tính quốc tế của loại hình trọng tài này.1 Tinh thương mại Theo quy định của Điều [3 Công ước New York 1958, trong lĩnh vực trọng tài, việc xác định thế nào được coi là tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài được căn cứ vào quy định của pháp luật quốc gia. Hiện nay hầu hết các quốc gia đều xác định phạm vi điều chỉnh của luật thương mại theo hướng khách quan, tức là theo bản chất của hành vi được tiến hành, chứ không căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi có là thương nhân hay không. Với -6- quan niệm này, các nước thường xác định nội hàm của khái niệm thương mại thông qua việc xác định thế nào được coi là hành vi thương mại.
Cách định nghĩa như trên cũng được Uỷ ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế sử dụng để định hướng cho pháp luật các quốc gia về nội hàm của khái niệm thương mại thông qua việc xác định thế nào được coi là hành vi thương mại. Cu thể theo Điều 1.1 của Luật mẫu UNCITRAL, các hành vi đó bao gồm: moi giao địch thương mại về việc cung cấp hay trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận về phan phối; đại diện thương mại; hoá don, chứng từ; bán - cho thuê; xây dung nhà máy, dịch vụ tư vấn; dé án thiết kế tổng hợp; giấy phép; đầu tư, cấp chỉ phí; giao dich ngân hàng; bảo hiểm; các hiệp định về khai thác hay chuyển nhượng; hợp tác giữa các xí nghiệp và các hình thức hợp tác về công nghiệp hay thương mại; vận chuyển hàng hoá hay hành khách bằng đường không, đường biển, đường sắt và đường bộ. Về phía Việt Nam, Luật thương mại năm 1997 (Điều 45) xác định hoạt động thương mại là việc thực hiện một trong 14 hành vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hoá; đại diện cho thương nhân; môi giới thương mại; uỷ thác mua bán hàng hoá; đại lý mua bán hàng hoá; gia công trong thương mại; đấu giá hàng hoá; đấu thâu hàng hoá; dịch vụ giao nhận hàng hoá; dịch vụ giám định hàng hoá; khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bày giới thiệu hàng hoá; hội chợ, và triển lam thương mại. Đây là một khái niệm hẹp đã vô hình hạn chế phạm vi của hoạt động thương mại.
Vì vậy, để tạo điều kiện phát triển nền thương mại quốc tế của quốc gia, Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 (ĐIK3) đã khái quát và mở rộng các hành vi thương mại, cụ thể bao gồm “mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mai; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dung; tu vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tu; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác;vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”. “MB Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam, không phải mọi hành vi nói trên đều là hành vi thương mại mà chỉ những hành vi đó do các chủ thé được coi là thương nhân thực hiện mới là hành vi thương mại. Vì vậy, khi xác định khái niệm thương mại theo pháp luật Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua khái niệm thương nhân. Theo quy định tại Điều 5 khoản 5 Luật thương mại năm 1997 thì “thuong nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên ”.
Pháp luật Pháp cũng xác định các hành vi thương mại bằng cách liệt kê, tuy nhiên khái niệm thương mại được mở rộng hơn pháp luật Việt Nam ở chỗ công nhận một số hành vi do những người không phải là thương nhân thực hiện nhưng mang tính chất thương mại cũng là hành vi thương mại, ví dụ các giao dịch thương phiếu. Cu thể, Điều L 110-1 Bộ luật thương mại Pháp cũng quy định theo hình thức liệt kê các hành vị thương mại như sau: mua động sản để bán lại, hoặc ngay khi còn ở dạng nguyên liệu, hoặc sau khi đã được chế biến thành phẩm; - _ mua bất động sản để bán lại, trừ trường hợp người mua dự định xây dựng một hoặc nhiều toà nhà để bán lại; - các hoạt động trung gian về mua, đăng ký hoặc bán bất động sản, sản nghiệp thương mại, chứng khoán hoặc phần vốn góp trong công ty chứng khoán; - — các hoạt động thuê và cho thuê bất động sản; - _ hoạt động sản xuất, uỷ thác, vận chuyển đường bộ và đường thuỷ; - cdc hoạt động sản xuốt, trung gian hay vận chuyển đường bộ hoặc đường thuỷ; - Các hoạt động cung cấp, đại lý, đại diện thương mại, cơ sở bán đấu giá hoặc trưng bày công cộng; -8- - _ các hoại động trao đổi, ngân hàng và môi giới; - các hoạt động ngân hàng công cộng; - _ cácgiao dịch trái phiếu giữa người mua, người bán và ngân hàng; - _ các hoạt động về thương phiếu của mọi loại chủ thé. Qua các quy định trên chúng ta có thể nhận thấy những điểm tương đồng trong quy định nội luật của Việt Nam và Pháp với quan niệm quốc tế chung về khái niệm thương mại, tuy nhiên ở mỗi quốc gia, vào mỗi thời điểm, tuỳ vào trình độ phát triển kinh tế lại có những quan điểm riêng về thương mại. Chẳng hạn, cả Việt Nam và Pháp đều chưa thừa nhận các hoạt động hop tác doanh nghiệp là hành vi thương mai.
Tuy nhiên, các khái niệm trên đây đều mang tính chất liệt kê. Pháp luật thường đi sau sự phát triển của thực tiễn nên việc liệt kê sẽ rất có thể là không đầy đủ hoặc không theo kịp sự mở rộng của thương mại quốc tế. Mặt khác, việc quy định nhằm tránh sự liệt kê không đủ của pháp luật Việt Nam khi sử dụng cụm từ “và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật” sẽ khiến cho người dan không thể tiếp cận một cách dễ dàng với pháp luật đồng thời tạo ra sự không minh bạch của pháp luật quốc gia. Do đó, theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng nên quy định khái niệm thương mại một cách khái quát hơn: thương mại bao gồm mọi hành vi trao đổi hàng hoá, dịch vụ hoặc giá trị, tức là mọi quan hệ kinh tế có mục đích sản xuất, trao đổi và lưu thông hàng hoá, thực hiện dịch vụ và các quan hệ gắn liền với chúng.2 Tinh quốc tế Tính quốc tế là căn cứ để xác định thế nào được coi là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài quốc tế chứ không phải là trọng tài trong nước.
Tuỳ từng mức độ phát triển của mỗi quốc gia, tuỳ vào cách mà mỗi quốc gia đánh giá -9. nang lực của trọng tài mà pháp luật mỗi quốc gia lai có những quy định giới han riêng về tính quốc tế. Pháp luật Việt Nam, quy định 3 căn cứ để xác định một tranh chấp có yếu tố nước ngoài có thể được giải quyết bằng con đường trọng tài [14, D1K4], bao gồm: - Mot hoặc các bên la người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài; - Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ phát sinh 6 nước ngoài; - Tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài Với quy định này, pháp luật Việt Nam đã xác định yếu tố nước ngoài của trọng tài thuộc về chủ thể, đối tượng và thuộc về căn cứ xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ phát sinh tranh chấp. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam đã bỏ qua một đặc điểm không thể xem nhẹ của trọng tài, đó là tính độc lập của tố tụng trọng tài đối với luật tố tụng của quốc gia", do đó là đã không đưa các yếu tố nước ngoài của tố tụng trọng tài (ví dụ như địa điểm trọng tài, luật áp dụng cho tố tụng trọng tài.) làm căn cứ xác định tính quốc tế của trọng tài.
Về phía Pháp, một cách rộng hơn và khái quát hơn, Điều 1492 BLTTDS 1975 quy định trọng tài mang tính quốc tế khi được hình thành trên cơ sở lợi ích của thương mại quốc tế, tức là yếu tố nước ngoài của trọng tài không chỉ thuộc về đối tượng của tranh chấp mà còn là mọi hoạt động làm dịch chuyển tài sản, thực hiện dịch vụ hay thanh toán qua biên giới quốc gia hoặc có mục đích kinh tế (hay tiền tệ) giữa ít nhất hai quốc gia. Với những cách quy định như trên, có thể nhận thấy Pháp luật Việt Nam giới hạn tính quốc tế của trọng tài hẹp hơn thông lệ chung, nhưng ngược lại, pháp luật Pháp lại quy định một cách quá khái quát, đòi hỏi phải có những giải thích khi áp ® Xem phân tích tại mục 2. Về tính quốc tế của trọng tài, UNCITRAL đã có những hướng dẫn cụ thé tại Điều 1.3 của Luật mẫu như sau: Một tổ chức trọng tài mang tính quốc tế khi: Các bên tham gia vào thoả thuận trọng tài có trụ sở tại nhiều nước khác nhau vào thời điểm ký kết; Một trong những địa điểm sau đây nằm ở ngoài đất nước mà ở đó các bên có trụ sở; Nơi tiến hành tố tụng trọng tài, nếu nơi này được quy định trong thoả thuận trọng tài hoặc được xác định căn cứ theo thoả thuận trọng tài; Mọi địa điển mà ở đó một phân chủ yếu của các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ thương mại hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có mối liên quan chặt chế nhất; hoặc Các bên đã thoả thuận ditt khoát với nhau là nội dung của thoả thuận trọng tài có liên quan đến hơn một nước.