Sách Chuyên Khảo Về Ủy Quyền Lập Pháp: Lý Luận Và Thực Tiễn Của Tô Văn Hòa Và Nguyễn Hải Ninh

Chuyên khảo phân tích Sách chuyên khảo ủy quyền lập pháp những vấn đề lý luận và thực tiễn tô văn hòa nguyễn hải ninh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách chuyên khảo

2017

252
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỦY QUYỀN LẬP PHÁP

1.1. VỀ PHÁP LUẬT, QUYỀN LẬP PHÁP, CƠ QUAN LẬP PHÁP

1.1.1. Một số khái niệm về pháp luật

Tóm tắt

I. Tổng quan về sách chuyên khảo ủy quyền lập pháp

Cuốn sách "Ủy quyền lập pháp: Lý luận và thực tiễn" do PGS. Tô Văn Hòa và TS. Nguyễn Hải Ninh đồng biên soạn, mang đến cái nhìn sâu sắc về ủy quyền lập pháp trong bối cảnh pháp luật Việt Nam. Nội dung sách không chỉ tập trung vào lý thuyết mà còn phân tích thực tiễn áp dụng tại nhiều quốc gia. Đây là tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến luật pháp Việt Nam và các vấn đề liên quan đến ủy quyền lập pháp.

1.1. Nội dung chính của cuốn sách

Cuốn sách được chia thành ba chương chính, mỗi chương đề cập đến các khía cạnh khác nhau của ủy quyền lập pháp. Chương đầu tiên tập trung vào lý luận, chương thứ hai phân tích thực tiễn ở một số quốc gia, và chương cuối cùng bàn về cơ chế thực hiện tại Việt Nam.

1.2. Tác giả và nguồn gốc xuất bản

PGS. Tô Văn Hòa và TS. Nguyễn Hải Ninh là những tác giả có uy tín trong lĩnh vực luật pháp. Cuốn sách được xuất bản bởi Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật vào năm 2017, nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu và sinh viên luật.

II. Vấn đề và thách thức trong ủy quyền lập pháp

Mặc dù ủy quyền lập pháp đã được áp dụng tại nhiều quốc gia, nhưng ở Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Các vấn đề như sự thiếu nhất quán trong quy trình ủy quyền và sự hạn chế trong việc thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội là những điểm cần được cải thiện. Cuốn sách chỉ ra rằng việc hiểu rõ về thực tiễn lập pháp là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan lập pháp.

2.1. Những bất cập trong quy trình ủy quyền

Quy trình ủy quyền lập pháp tại Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, từ việc thiếu rõ ràng trong các quy định đến sự chồng chéo giữa các cơ quan nhà nước. Điều này dẫn đến việc thực hiện quyền lập pháp không hiệu quả.

2.2. Tác động của ủy quyền lập pháp đến hệ thống pháp luật

Việc ủy quyền lập pháp không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của Quốc hội mà còn tác động đến toàn bộ hệ thống pháp luật. Sự thiếu đồng bộ trong các văn bản pháp luật có thể gây ra khó khăn trong việc thực thi và áp dụng pháp luật.

III. Phương pháp nghiên cứu về ủy quyền lập pháp

Cuốn sách sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích ủy quyền lập pháp. Từ việc tổng hợp tài liệu lý luận đến phân tích thực tiễn, các tác giả đã đưa ra những kết luận có giá trị. Phương pháp nghiên cứu này giúp làm rõ các khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề.

3.1. Phương pháp tổng hợp tài liệu

Tác giả đã tổng hợp nhiều tài liệu từ các nguồn khác nhau, bao gồm cả lý thuyết và thực tiễn, để xây dựng nền tảng cho nghiên cứu về ủy quyền lập pháp.

3.2. Phân tích thực tiễn tại các quốc gia

Cuốn sách cũng phân tích thực tiễn ủy quyền lập pháp tại một số quốc gia như Anh, Mỹ, và Pháp, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam. Những ví dụ này giúp làm rõ hơn về cách thức áp dụng và hiệu quả của ủy quyền lập pháp.

IV. Ứng dụng thực tiễn của ủy quyền lập pháp tại Việt Nam

Cuốn sách chỉ ra rằng ủy quyền lập pháp có thể được áp dụng hiệu quả tại Việt Nam nếu có sự cải cách trong quy trình và quy định. Các tác giả đã đưa ra nhiều đề xuất nhằm cải thiện tình hình hiện tại, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan lập pháp.

4.1. Đề xuất cải cách quy trình ủy quyền

Để nâng cao hiệu quả của ủy quyền lập pháp, cần có sự cải cách trong quy trình ủy quyền, đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng trong các quy định pháp luật.

4.2. Tăng cường kiểm soát hoạt động ủy quyền

Việc tăng cường kiểm soát hoạt động ủy quyền lập pháp sẽ giúp đảm bảo rằng các văn bản pháp luật được ban hành phù hợp với quy định và có hiệu lực thực thi cao hơn.

V. Kết luận và tương lai của ủy quyền lập pháp

Cuốn sách "Ủy quyền lập pháp: Lý luận và thực tiễn" không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về ủy quyền lập pháp mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong tương lai. Việc nghiên cứu và cải cách ủy quyền lập pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống pháp luật Việt Nam.

5.1. Tầm quan trọng của ủy quyền lập pháp

Ủy quyền lập pháp đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và thống nhất. Nó giúp tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước.

5.2. Triển vọng phát triển trong tương lai

Với những cải cách cần thiết, ủy quyền lập pháp có thể trở thành một công cụ hữu hiệu trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1; Andrei Vyshinsky: Pháp luật của Nhà nước. Xôviết (The law of the Soviet state), Hug Babb dich, Macmillan Company, 1948. John Locke: The second treatise concerning civil government (Bai luận thứ hai về chính quyền), Barnes & Noble, 1690, Chương II, II, VH va XI 10 chính trị Pháp, ông nổi tiếng với thuyết tam quyền phân lập, ông đã phát triển lý luận của mình về pháp luật và thuyết phân quyền vào giữa thế ky XVIII. "Trong tác phẩm nổi tiếng “Bàn về tỉnh thân pháp luật” (De Lesprit des lois) xuất bản năm 1748, Montesquieu luận về pháp luật trong các chính thé khác nhau và trong các mối quan hệ với các yếu tố khác nhau của tự nhiên và xã hội.

Đề cập sự ra đời và khái niệm của pháp luật, ông viết: “Khi con người được tổ chức thành xã hội thì họ mất cảm giác yếu đuối, cảm giác về bình đẳng trước đây cũng mất. Trang thái [xung đột] (TG)' bắt đầu. Hai trạng thái [xung đột] (TG) nói trên dẫn tới việc phải thiết lập luật lệ giữa người với người. Luật đó là lý trí của loài người khi ta nói về luật chung cho mọi dân trên trái đất.

Luật chính trị và luật dân sự của mỗi dân tộc chỉ là sự vận dụng cụ thể lý trí loài người nói trên vào từng trường hợp mà thôi”. Như vậy, Montesquieu cho rằng khi con người rời bé trang thái tự nhiên để hình thành xã hộ ¡ - một xu hướng tất yếu về sự phát triển của loài người - thì khi 1. Trong Charles de Secondate de Montesquieu: Bàn về tỉnh thân pháp luật (De Lesprit des Lois, 1748), Hoàng Thanh Dam dich, Nxb. Lý luận chính trị, 2004, tr.

44, sử dụng thuật ngữ “Trạng thái chiến tranh" 2. Charles de Secondate de Montesquieu: Bàn về tỉnh thần pháp luật (De L’esprit des Lois, 1748), Sdd, tr. 1 đó dẫn tới tình trạng xung đột, thể hiện dưới hai trạng. thái chủ yếu là xung đột giữa các xã hội loài người với nhau và giữa con người với nhau trong cùng một xã hội.

Sự xung đột này là tất yếu và bản thân nó đòi hỏi trật tự và luật lệ được thiết lập để giải quyết các xung đột trong xã hội. Pháp luật, theo Montesquieu, là lý trí của loài người để điều chỉnh, qua đó giải quyết, xung đột trong xã hội. Vì xung đột trong xã hội loài người là tất yếu nên sự tổn tại của pháp luật trong xã hội là tất yếu. Khi bàn sâu hơn về pháp luật với tư cách là sự thể hiện ý chí của con người, Rousseau (1712-1778) nhà triết học thuộc trào lưu khai sáng, ông viết trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” (Du contract social): “Khi toàn dân quy định một điểu gì cho toàn dan thì họ chỉ xem xét đến toàn thể, nếu hình thành mối quan hệ thì phải là quan hệ giữa toàn thể trên một cách nhìn này với toàn thể trên một cách nhìn khác; cái toàn thể không hé bị chia tách ra.

Như vậy chất liệu để xây dựng là chất liệu chung cũng như ý chí xây dựng là ý chí chung. Cái đó tôi gọi là luật. Khi tôi nói luật bao giờ cũng là tổng quát chung cho mọi người, tôi hiểu rằng luật coi tất cả thân dân là một cơ thể, mà trừu tượng hóa các hành động, không coi con người như một cá nhân hoặc như một hành động riêng lẻ. Luật có thể quy định rằng sẽ có một số đặc quyền, nhưng không nói rõ đặc quyền cho một cá nhân 12 cụ thể nào.

Luật cũng có thể chia công dân làm nhiều hạng, nhưng không chỉ định cụ thể người này, người kia là thuộc hang nay hay hạng khác”. Như vậy, Rousseau đã phát triển thêm một bước khái niệm về pháp luật bằng sự phát hiện tính “chung” của pháp luật. Đối với Rousseau, luật vừa là sản phẩm của ý chí chung, của cái toàn thể xã hội con người, vừa áp dụng chung cho toàn thể xã hội con người mà không có sự phân biệt hay cá thể hóa. Tính chung và tính toàn thể này độc đáo ở chỗ, chính ý chí của toàn thể xã hội được chuyển hóa thành luật và đến lượt mình, luật quay trở lại áp dụng chung cho toàn thể xã hội con người.

Tất nhiên, cái gọi là “áp dụng toàn thể” trong trường hợp này cần được hiểu một cách linh hoạt, theo nghĩa bao gồm cả luật áp dụng chung cho một nhóm, một loại đối tượng nhất định trong xã hội. Kể từ cuối thế kỷ XIX, khoa học pháp lý ngày càng phát triển và hình thành các trường phái luật học khác nhau với những quan điểm khác nhau về pháp luật, như trường phái pháp luật tự nhiên (Natural law), trường phái pháp luật thực định (Positive Jaw), trường phái pháp luật xã hội chủ nghĩa. Các trường phái này đều có đặc điểm là cách tiếp cận cụ thể hơn về khái pháp luật. Frederick Pollock, một học giả người Anh 1.

Jean - Jacques Rousseau: Ban về khế ước xã hội (Du contract social, 1762), Sdd, tr. 13 đầu thế kỷ XX, sau khi xem xét các khái niệm pháp luật của các trường phái luật học khác nhau đã tổng kết như sau: “Pháp luật là quy tắc xử sự ràng buộc đối với các thành viên sinh sống trên lãnh thổ quốc gia. Không thể hình dung được nếu quy tắc xử sự đó không được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế”. Thomas Erskine Holland, một học giả khác cùng thời với Frederick Pollock cũng đã đưa ra một khái niệm tương tự về pháp luật, song nhấn mạnh hơn tới nội dung của pháp luật.

Theo Erskine Holland: “Pháp luật, vì vậy, theo nghĩa trừu tượng của các quy tắc hành xử của con người, là những quy định bắt buộc thực hiện, hoặc không được thực hiện, một số loại hành vi nào đó mà nếu không tuân thủ điểu đó sẽ bị hoặc có thể bị áp dụng chế tài hoặc những điều bất lợi nào do”. Một học giả khác thuộc trường phái luật học Anh - Mỹ, John Salmond (1862-1924) lại đưa ra một khái niệm khác về pháp luật trong đó thuộc tính “chung” và chủ thể ban hành pháp luật được nhấn mạnh: “Pháp luật có nghĩa là pháp luật bắt buộc (imperative law) là quy tắc xử sự áp đặt đối với con người bởi một. Frederick Pollock: A first book on jurisprudence (Cuốn sách đầu tiên về luật học), Nxb. Macmillan and Co Ltd.

Thomas Erskine Holland: The elements of jurisprudence (Các thành tố của luật hoc), Oxford University Press, 1910, tr. 14 cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế để bảo đảm thi hành. Nói cách khác, pháp luật là mệnh lệnh trong đó quy định một số cách thức xử sự chung và nó được áp đặt và bảo đảm thực hiện bỗi cơ quan có thẩm quyền”. Hans Kelsen (1881-1973) người Mỹ gốc Áo, một học.

giả đến từ nền luật học châu Âu lục địa, cũng đưa ra quan điểm tương tự với John Salmond về khái niệm pháp luật. Ông viết ngay trong trang đầu tiên của một. tác phẩm nổi tiếng của mình: “Pháp luật là trật tự của hành vi, đó là một hệ thống các quy tấc xử sự ràng buộc hành vi của con người. “Trật tự này do nhà nước bảo đảm thực hiện", Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, các luật gia Xôviết đã phát triển lý luận riêng của mình về nhà nước và pháp luật dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin.

Khác với các khái niệm nêu trên, khái niệm pháp luật theo trường phái Xôviết nhấn mạnh tới ý nghĩa chính trị của pháp luật với tư cách công cụ để phục vụ đấu tranh giai cấp và thống trị giai cấp. Andrei Vyshinsky, Viện trưởng Viện kiểm sát tối 1. John Salmond: The law of tort (Pháp luật về bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng), Nxb. Sweet & Maxwel, Ltd.

2, Hans Kelsen: General Theory of law and state (Lý luận chung về pháp luật va nha nuée), dich bởi Anders Wedberg, Havard University, 1946, tr. 15 cao Liên bang Xốviết giai đoạn 1931-1939, đã đưa ra khái niệm pháp luật đại diện cho trường phái luật học Xôviết như sau: “Pháp luật là tổng thể (a) các quy tắc xử sự, thể hiện. ý chí của giai cấp thống trị và được xác lập trong trật tự pháp lý, và (b) các tập quán và quy tắc của đời sống cộng đồng được cơ quan có thẩm quyền công nhận - việc tuân thủ tất cả các quy tắc xử sự này được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằm bảo vệ, bảo dam va phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị và được giai cấp thống trị chấp nhận”'. Quan điểm của các học giả Xôviết về pháp luật hoàn toàn được chia sẻ bởi các học giả Việt Nam trong thời kỳ trước Đổi mới.

Tuy nhiên, kể từ khi Đổi mới cho đến nay, quan điểm về khái niệm pháp luật ở Việt Nam phần nào đã được điều chỉnh hài hòa hơn, tính giai cấp vẫn được công nhận như một phần thuộc tinh cố hữu của pháp luật, song bên cạnh đó tính xã hội cũng đã bước đầu được để cao. Theo cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay thì: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện 1. Vyshinsky, Andrei Vyshinsky: Pháp luật của Nhà nước Xôviết (The law of the Soviet state), Hug Babb dịch, Macmillan Company, 1948, tr. 16 để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục dich, định hướng của Nhà nước" Mặc dù được thể hiện dưới những ngôn từ khác nhau, cách tiếp cận cũng không hoàn toàn giống nhau, thậm chí có thể đối lập nhau, song các quan điểm xuyên suốt từ cuối thế kỷ XVII toát lên những nét chung nhất định khi để cập khái niệm pháp luật.

Thứ nhất, pháp luật là tổng hợp các quy tắc xử sự chung được đặt ra để thiết lập các trật tự trong xã hội. Với tư cách là quy tắc xử sự, pháp luật có nội dung là các quyền hoặc nghĩa vụ pháp lý tác động lên hành vi của con người, uốn nắn hành vi của con người trong những hoàn cảnh cụ thể. Khi pháp luật áp đặt nghĩa vụ hoặc hạn chế hành vi thì bắt buộc con người phải tuân theo. Với tư cách là quy tắc xử sự chung, pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng, tức là nó không điều chỉnh các trường hợp cụ thể mà mang nghĩa trừu tượng.

Pháp luật được đặt ra để áp dụng với toàn thể xã hội hoặc quy định về một nhóm hành vi hoặc đối tượng trong xã hội. Như vậy, pháp luật bao gồm các quy tắc xử sự chứa. đựng các quyền, nghĩa vụ pháp lý tác động chung lên các chủ thể. Các quy tắc xử sự, tức là pháp luật, phải được đặt ra trước khi hành vi được thực hiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Sách Chuyên Khảo Ủy Quyền Lập Pháp: Lý Luận Và Thực Tiễn của Tô Văn Hòa và Nguyễn Hải Ninh là một tài liệu chuyên sâu, phân tích cả lý thuyết và thực tiễn về vấn đề ủy quyền lập pháp. Cuốn sách cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ chế, quy trình và những thách thức trong việc ủy quyền lập pháp, đồng thời đưa ra các giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả của quá trình này. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, sinh viên luật và những người quan tâm đến lĩnh vực lập pháp.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý và quản lý, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học quản lý cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng, nghiên cứu về quản trị hiệu quả trong lĩnh vực hộ tịch qua Luận văn thạc sĩ luật học quản trị tốt trong lĩnh vực hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Hà Nam, hoặc khám phá sâu hơn về chính sách dân tộc qua Luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn chuyên sâu, giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh liên quan đến pháp luật và quản lý.