CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE LOI TRONG TRÁCH NHIỆM BOI THUONG THIET HAI NGOÀI HỢP DONG 1. Khái niệm, đặc điểm của lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hai ngoài hợp đồng 1. Khái niệm lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp dong Khái niệm của “lỗi” hiểu theo cách thông thường là “sai sét, không đúng với quy định hoặc với lé phai” [32, tr. Theo góc độ tâm lý học, lỗi là yếu tố nội tâm của con người, diễn biến phức tạp và chi phối trực tiếp hành vi của con người.
Pháp luật Việt Nam từ xưa đến nay vẫn chưa có quy định cụ thé về khái niệm “lỗi”. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý, các nhà lập pháp nước ta vẫn chủ yêu nhìn nhận lỗi là trạng thái tâm lý hay thái độ tâm lý của người có hành vi trái pháp luật. Điều này được thể hiện qua rất nhiều tài liệu khoa học hay các giáo trình chăng hạn như Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội đã xác định: “Lỗi phản ánh thái độ tâm lý bên trong của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật và hậu quả cua hành vi do” [28, tr. 426] hay như trong Giáo trình Luật Hanh chính Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội cũng xác định: “Lỗi là trạng thái tam lý của cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi phạm” [26, tr.
Nếu định nghĩa về lỗi mà chỉ dừng lại ở “thái độ tâm lý” của người thực hiện hành vi là chưa đủ, bởi ngoài tâm lý (mong muôn chủ quan) ra, hành vi còn được thực hiện trong những điều kiện nhận thức khác nhau và mỗi một điều kiện nhận thức lại tạo ra một hình thức lỗi khác nhau. Trong khi “thái độ tâm lý” chỉ là sự phản ánh của sự mong muốn ý chí (cố ý hay vô ý). Trên cơ sở đó, tác giả Phạm Văn Tuyết cho rang: “Lỗi là nhận thức chủ quan và theo đó tâm lý của chủ thể được thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi nhất định” [31, tr. Việc hiểu “lỗi” là nhận thức của chủ thể thực ra đã tổn tại khá lâu trong khoa học pháp lý Việt Nam.
Theo đó, tác giả Trịnh Khánh Phong cho rằng: “người gây thiệt hại phải có lỗi, tức là họ có đủ điều kiện đề nhận thức rằng hành vi của minh là trái pháp luật và có thé gây thiệt hai” [22, tr. 132] hay theo tác giả Lê Van Sua: “lỗi là trạng thái tâm lý của con người có thể làm chu, nhận thức được hành vi cua mình và hậu quả cua hành vi do” [23, tr. Như vậy, khi bàn về khái niệm của “lỗi”, đa số các luật gia đều thống nhất với việc định nghĩa lỗi dựa trên “nhận thức” và “thái độ tâm lý” của chủ thể có hành vi. Trong khoa học pháp lý dân sự thì lỗi được hiểu là yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lý của con người có khả năng đánh giá và nhận thức được hành vi cua mình là đúng hay sai và hậu quả của hành vi đó [18, tr.
Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng “.cần thiết phải xây dựng khái niệm lỗi dựa trên sự quan tâm, chu đáo của chủ thể đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Một cá nhân hay pháp nhân được coi là có lỗi nếu khi áp dung tat cả mọi biện pháp dé thực hiện dung nghĩa vụ đã biểu hiện sự quan tâm chu đáo mà tính chất của nghĩa vụ và điêu kiện lưu thông dân sự yêu cau đổi với ho” [9, tr. Tuy nhiên, việc xây dựng khái niệm lỗi dựa trên “sự quan tâm, chu đáo” của các chủ thê là việc rất khó xác định và không rõ ràng. Dong thời, dé đánh giá được “sw quan tâm” của các chủ thé thì vẫn phải dựa vào hoạt động tâm lý và nhận thức bên trong của con người cụ thể.
Mặt khác, nếu xây dựng khái niệm lỗi theo quan điểm này thì sự quan tâm đó phải gắn 10 với việc thực hiện công việc nào đó theo nghĩa vụ của chủ thê nhưng trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, giữa các bên không có thỏa thuận hợp đồng về nghĩa vụ phải thực hiện nên không thể xác định được công việc phải làm đề bày tỏ sự quan tâm. Do đó, việc xây dựng khái niệm của lỗi vẫn phải dựa trên “nhận thức” và “thái độ tâm lý” của chủ thê có hành vi. ` Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một trong các trách nhiệm dân sự do đó khái niệm “lỗi” trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng cơ bản giống như khái niệm “lỗi” trong trách nhiệm dân sự. Theo đó, lỗi là thái độ tâm lý hay trạng thái tâm lý của người gây thiệt hại đối với hành vi [19, tr.
703] hay lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên, như vừa phân tích ở trên thì “lỗi” trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng phải gan với “nhận thức” về thiệt hai của người có hành vi gây thiệt hại. Một người bị coi là có lỗi khi người gây thiệt hại nhận thức được hoặc không nhận thức được nhưng có đủ điều kiện thực tế để nhận thức được tính chất gây thiệt hại của hành vi va có đủ điều kiện dé điều khiển một hành vi khác không gây thiệt hại [19, tr. Từ đó, có thể định nghĩa một cách đầy đủ hơn thì lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện [30, tr.
Trong khoa học pháp lý, yéu tố “lỗi” trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng không chỉ đặt ra đối với người gây thiệt hại mà còn đặt ra đối với chủ thể khác như: người quản lý người gây thiệt hại, người có trách nhiệm quản lý tài sản, người thứ ba,. hoặc chính chủ thé bị thiệt hại. Do đó, khi xây dựng khái niệm về “lỗi” trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, chúng ta phải bảo đảm khái quát được lỗi của tất cả các chủ thể này. Từ đó, tác giả đưa ra khái niệm về “lỗi” trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng như sau: “Lỗi là yếu to chủ quan của một người phản ánh nhận thức và thái độ tâm lý II của người đó đối với hành vi và hậu quả cua hành vi mà họ đã thực hiện dan dén xảy ra thiệt hại”.
Đặc điển của lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Từ khái niệm lỗi trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, có thể thấy được lỗi trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, lỗi là yêu tố chủ quan của con người, diễn biến phức tap va chi phối trực tiếp hành vi của con người. Lỗi là yếu tố nội tâm của con người nên chỉ con người mới có thé có lỗi. Ké cả trong trường hợp xác định pháp nhân có trách nhiệm BTTH thì vẫn phải dựa trên lỗi của một cá nhân riêng biệt hoặc của một tập thê thống nhất, không tồn tại lỗi của pháp nhân. Pháp luật buộc pháp nhân có trách nhiệm BTTH không phải vì pháp nhân đó có lỗi dẫn đến xảy ra thiệt hại mà bởi việc thực hiện nhiệm vụ là cá nhân nhân danh pháp nhân và vì lợi ích của pháp nhân.
Với tính chất là yếu tố tồn tại trong suy nghĩ của con người và chỉ có thể xác định, đánh giá thông qua hành vi của con người nên đôi khi hành vi đó là kết quả của cả một quá trình diễn biến tâm lý phức tạp của con người. Thứ hai, lỗi phản ánh nhận thức của một người đối với hành vi và hậu quả của hành vi ma họ đã thực hiện. Theo tác giả Ngô Văn Thâu thì “người gây thiệt hại phải có lôi: nghĩa là người gây thiệt hại phải nhận thức được hoặc có thể nhận thức được hành vi của minh là trái pháp luật và có thé gây thiệt hại cho người khác” [25, tr. Việc xác định một người có lỗi phải dựa trên khả năng nhận thức của người đó.
Khi một người có lý trí mà hành động trái với pháp luật thì người đó phải chịu trách nhiệm về những tổn hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra. Do đó, một người bị coi là lỗi thì trước hết 12 người đó phải là người có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Trẻ em hoặc người bi mắc các chứng bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, điều khiến hành vi của mình thi không phải tự chịu trách nhiệm về hành động của mình và hậu quả do hành động đó gây ra. Những người này được xác định là không có lỗi.
Thứ ba, lỗi phản ánh thái độ tâm lý của một người đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện. Quan hệ tâm lý ở đây bao gôm hai yếu tố là lý trí và ý chí. Yếu tổ lý trí thé hiện ở nhận thức thực tại khách quan (nhận thức được hoặc không nhận thức được mặc dù đủ điều kiện để nhận thức khả năng gây thiệt hại của hành vi). Yếu tố ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành vi (khả năng kiềm chế hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng thực hiện hành vi khác phù hợp với pháp luật) [12, tr.
Như vậy, một người bi coi là có lỗi khi người đó nhận thức được khả năng gây thiệt hại của hành vi nhưng vẫn lựa chọn thực hiện hành vi gây thiệt hại hoặc khi người đó không nhận thức được nhưng có đủ điều kiện thực tế để nhận thức được tính chất gây thiệt hại của hành vi và có đủ điều kiện để thực hiện một hành vi khác không gây thiệt hại. Thứ tư, lỗi luôn gắn với hành vi trái pháp luật của chủ thé (có thé là hành vi gây thiệt hại, hành vi không quan lý người gây thiệt hại, hành vi không quản lý tài sản, .) mà không bao giờ tồn tại yếu tổ lỗi hoàn toàn độc lập với hành vi trái pháp luật. Bởi “lôi là nhận thức chủ quan và theo đó tâm lý của chủ thể được thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi nhất định” (31, tr.13], nên một hành vi bi coi là có lỗi thì trước hết người thực hiện hành vi đó phải có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Tức là lỗi không thé ton tại ngoài hành vi có ý thức của con người.
Về lý luận, yếu tổ lỗi không thé tồn tại độc lập và tách biệt với hành vi trái pháp luật của chủ thé.