Chương 1: Một số van đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn. Chương 2: Quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực pham không an toàn tai Viét Nam. Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn tại Việt Nam. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIỆM BOI THUONG THIET HAI DO SAN XUAT, KINH DOANH THUC PHAM KHONG AN TOAN 1.
Khái quát chung về hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn 1. Khái niệm và đặc điểm về hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm Thứ nhất, khái niệm thực phẩm Thực phâm là thuật ngữ được nhiều quan điểm đưa ra những khái niệm khác nhau. Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, Thực pham “?à những vật phẩm có tác dung nuôi sống con người. Thực phẩm trong quả trình dong hóa và di hóa cung cấp cho cơ thể lượng calo can thiết dé duy trì các hoạt động sống.
Theo thành phan hóa học, thực phẩm được chia thành: thực phẩm giàu đạm (cá, thịt, sữa, trứng.), thực phẩm giàu chất lượng (thóc gạo, bột mì, đường.), thực phẩm giàu chất béo (lạc, vừng. Theo nguôn gốc, thực phẩm được chia ra thực phẩm có nguồn gốc động vat, thực phẩm có nguôn gốc thực vật, thực phẩm có nguôn gốc vi sinh vật. Thực phẩm có loại ăn được ngay, có loại phải qua chế biến thì cơ thể mới hấp thụ được””. Như vậy, với khái niệm này, thực phâm được nhận diện dựa trên 02 dấu hiệu: (i) là vật phẩm (thường là vật hữu hình) va (ii) có tác dụng nuôi sống con người: thực phẩm cung cấp dưỡng chất phù hợp với co thé con người, duy trì sự song hoặc thúc đây sự phát trién.
Theo khái niệm mà các nhà khoa học đưa ra thì thực phẩm “/à những loại thức ăn mà con người có thể ăn và uống được để nuôi dưỡng cơ thể. Thực phẩm gồm ba nhóm chính đó là nhóm cacbohydrat (tinh bột), lipit (chất béo), protein (chất đạm). Đây là những dưỡng chất không thể thiếu để duy trì các hoạt động sống của cơ thé’4. Khái niệm này nhìn chung cũng khái quát các dau hiệu dé nhận biết thực phẩm như khái niệm trên như (i) là thức ăn, (ii) để nuôi dưỡng cơ thé con người với 03 dưỡng chất chính là tinh bột, chất béo, chất đạm.
Tuy nhiên, tác giả thay khái niệm này chưa đủ bao quát vì các sản phẩm ngày nay vô cùng da dang; khái niệm trên dễ gây nhầm lẫn thực phẩm với các sản phâm khác như dược phẩm, chất kích thích, thực phâm chức năng, những thứ cũng có thể được con người hấp thụ qua đường ăn uông và có chứa các dưỡng chât được kê trên. 3 Xem: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điền Bách khoa Việt Nam, Tir điển Bách khoa Việt Nam, Tập 4, NXB Từ điển Bách khoa, tr. 334 * Xem: Thực pham là gì và những kiến thức liên quan đến thực phẩm. Link truy cập: https://thucpham.com/thuc-pham-la-gi/, ngày truy cap: 2.2022 Theo ý hiểu của tác giả, thực phẩm là một sản phẩm hữu hình, được con người hấp thụ thông qua đường ăn, uống và chúng có thể ở các dạng khác nhau như tươi sống, sơ chế, chế biến, bảo quản.
Mục đích của thực phâm là cung cấp dưỡng chất, nuôi sống con người. Thực phâm được sử dụng hàng ngày, duy trì sự sống của con người từ khi họ sinh ra đến khi họ chết đi. Bên cạnh đó, theo tác gia, thực phâm không bao gồm dược pham, mỹ phẩm va chat kích thích (thuốc lá, rượu bia) vì mục đích sử dụng thực phâm khác với mục đích sử dụng của ba nhóm kia. Chúng ta có thé nhận thấy rang thực phẩm là nhu yếu phẩm cần thiết đáp ứng cho một trong ba nhu cầu cơ bản của con người đó là nhu cầu ăn.
Thực phẩm cung cấp các chất cần thiết cho việc duy trì sự sống và sự phát triển của con người, được con người sử dung hàng ngày. Trong khi đó, các loại thuốc dùng cho người, mỹ phẩm và thuốc lá không có những tính chất, chức năng như các loại thực phâm đã được liệt kê, đồng thời cũng không phải là những yếu phâm được sử dụng thường xuyên và với tat cả moi ngu0oi. Tu những khái niệm va lập luận trên, tac gia cho rằng: Thực phẩm la sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế bién, bảo quản, được sử dụng hàng ngày, có tác dụng nuôi sống con người. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, dược phẩm và các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá.
Thứ hai, khái niệm sản xuất, kinh doanh thực phẩm Dé thực phẩm đến được tay người tiêu dùng, trước đó đòi hỏi rất nhiều công đoạn, trong đó bao gồm 02 công đoạn chính là sản xuất và kinh doanh. Thuật ngữ “sản xuất thực phẩm” (food production) là “tat cả các khâu lam ra thực phẩm, trong đó nguyên liệu thô được chuyển đổi thành các sản phẩm thực phẩm làm săn để con người sử dụng trong gia đình hoặc trong các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Quả trình của nó bao gồm các phương pháp khoa học. Sản xuất thực phẩm có nhiêu phan và nó bắt dau với những việc cơ bản như rửa sạch, phân loại, chuẩn bị, thêm nguyên liệu theo tỷ lệ chỉnh xác, trình bay,.
Nhu vậy, theo định nghĩa này sản xuất thực phẩm là quá trình con người thực hiện việc chuyển đổi nguyên liệu thô thành sản phẩm có sẵn, từ giỗng cây trồng thành thành pham, vật nuôi. Qua trình này đòi hỏi cần sự kiên trì, ti mi và có thể phải áp dụng các phương pháp khoa học. Kết quả của hoạt động sản xuất thực phẩm là tạo ra thực phâm — nguôn cung câp dinh dưỡng nuôi sông con người. 5 Xem: Food production, link truy cập: https://byjus.com/biology/food-production/ ngày truy cập: 2.2022 Bên cạnh đó, tác giả William Burton có định nghĩa về kinh doanh là “bá: ki một hoạt động nào tham gia vào nhằm tạo ra lợi nhuận ”5.
Như vậy, theo tác giả này, dau hiệu nhận diện hoạt động kinh doanh là mục đích tìm kiếm lợi nhuận của chủ thé đó. Từ đó, tác giả có định nghĩa như sau: “Sản xuất thực phẩm là việc thực hiện một hoặc các hoạt động như trông trọt, chăn nuôi, sơ chế, chế biến. kết quả là nhằm tạo ra sản phẩm là thực phẩm” và “Kinh doanh thực phẩm là việc một chủ thể thực hiện một hoặc các hoạt động như vận chuyển, bảo quản, giới thiệu, quảng bá sản phẩm tới người tiêu dùng, kết quả là nhằm tạo ra lợi nhuận cho chủ thể dé”. Có thê thay rang, “sản xuất thực phẩm ” là việc tạo ra nguồn thực phâm cho con người sử dụng, tiêu dùng bằng cách thực hiện các hoạt động đã nêu ở định nghĩa trên.
Nó chỉ dừng ở giai đoạn thực phẩm được làm ra. Còn “kinh doanh thực phẩm” là quá trình tiếp theo sau đó, trải qua nhiều giai đoạn như: bảo quản, vận chuyên đến nơi cần buôn bán, thiết lập và thực hiện hợp đồng mua bán, trao đổi, chuyền giao thực pham dén tay người tiêu dùng nhăm mục đích là thu lại lợi nhuận. Với sự khác nhau của hai khái niệm “sản xuất” và “kinh doanh”, chủ thé thực hiện hai hoạt động này cũng có thể khác nhau. Người sản xuất sẽ thực hiện các hoạt động nhằm sản xuất, tạo ra thực phẩm, ví dụ như người nông dân nuôi trồng nông sản.
Người kinh doanh sẽ sử dụng thực phẩm để làm ra lợi nhuận thông qua các hoạt động buôn bán, dịch vụ vận chuyên, dịch vụ bảo đảm, các hoạt động giới thiệu. Trong nhiều trường hợp, một chủ thé có thé thực hiện cả hai công đoạn sản xuất và kinh doanh thực phẩm, ví dụ như người bán đậu phụ ở chợ, họ tự trồng cây đậu, thu hoạch hạt đậu, sản xuất đậu phụ, sữa đậu nành và tào phớ tại nhà và đem ra chợ bán. Vì thực phâm có tác động trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người nên pháp luật sẽ có các tiêu chí nghiêm ngặt đề đánh giá sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Khái niệm và đặc điểm về hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn Thuật ngữ “không an toàn” được hiểu là “có nguy hiểm, rủi ro hoặc tổn hại”.” Kết hợp với khái niệm hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại mục 1.
thì hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn được hiểu là: “những hoạt động tạo ra sản phẩm, cung cấp sản phẩm tới tay người tiêu dùng không đáp ứng các yêu cầu về năng lực chủ thể thực hiện, quy trình thực hiện, chất lượng sản phẩm theo quy định pháp luật mang đến rủi ro hoặc nguy hiểm cho người sử dụng sản phẩm ”.Từ định nghĩa trên có thé thấy hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn bao gồm các dấu hiệu sau đây: 5 William Burton, Burton’s Legal Thesaurus, 2007, Truy cập vào: 11:08, 10.2022 7 Xem: https://vi.org/20908-unsafe-condition, truy cập vào 15.2022 10 Một là, hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn do chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm đáp ứng năng lực chủ thể phù hợp Chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm có thể hiểu là tất cả các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sản xuất, thu lợi nhuận.Š Chủ thể sản xuất, kinh doanh có thê là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, hợp tác xã. Năng lực chủ thé của là kha năng dé chủ thé đó có thé tham gia vào quan hệ pháp luật và tự mình thực hiện các quyên, nghĩa vụ phát sinh từ mối quan hệ pháp luật đã tham gia. Khi thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các chủ thé đang tham gia vào các quan hệ pháp luật, thực hiện quyên và nghĩa vụ pháp lý của mình theo pháp luật quy định. Bên cạnh đó, nếu có thiệt hại xảy ra, các chủ thể cần có đủ năng lực dé thực hiện nghĩa vụ bôi thường thiệt hại cho phía bị thiệt hại.
Vi dụ: Nếu chủ thể pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thực phẩm thì phải được thành lập hợp pháp, theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; có cơ cấu tô chức chặt chẽ; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập và có đủ các điều kiện theo quy định của Luật chuyên ngành nhằm đảm bảo quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn như công nghệ, nhân lực.