Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương: - Chƣơng 1: Quan hệ truyền thông giữa báo chí và người tiêu dùng - Chƣơng 2: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên báo chí - Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên báo chí 10 z CHƢƠNG 1: QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA BÁO CHÍ VÀ NGƢỜI TIÊU DÙNG 1. Bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng trong điều kiện hiện nay 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm người tiêu dùng Khái niệm NTD hiểu theo nghĩa hẹp của lý thuyết Mark là người mua sắm và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu và ước muốn cá nhân.
Họ là người cuối cùng tiêu dùng sản phẩm do quá trình sản xuất tạo ra. Người tiêu dùng có thể là một cá nhân, một hộ gia đình, hoặc một nhóm người nào đó. Hiểu theo nghĩa rộng, NTD ngoài mục đích mua bán hàng hoá, sử dụng dịch vụ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, là NTD cuối cùng, có thể còn phục vụ cho nhu cầu tái sản xuất kinh doanh (như nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, các thiết bị chi tiết để phục vụ cho sản xuất hàng hoá). Theo Từ điển tiếng Việt, quyền lợi được hiểu là quyền được hưởng những lợi ích nào đó về vật chất, tinh thần, chính trị, xã hội…[39, tr.
Trong khi đó, từ góc độ kinh tế học, quan niệm NTD (tiếng Anh: consumer) nghĩa là khách hàng, người mua hàng hóa và dịch vụ để sử dụng cho riêng mình chứ không phải để bán [13, tr. Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD (năm 1999) – Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của nước ta về vấn đề Bảo vệ quyền lợi NTD quan niệm: NTD là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức. Gần đây nhất, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua năm 2010 thay thế cho Pháp lệnh Bảo vệ 11 z quyền lợi NTD (năm 1999) định nghĩa: NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Khái niệm quyền lợi người tiêu dùng Theo quy định của Liên hợp quốc, NTD có 8 quyền cơ bản: Quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được an toàn; Quyền được cung cấp thông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe hay đại diện; Quyền được khiếu nại và bồi thường; Quyền được giáo dục và đào tạo về tiêu dùng; Quyền được sống trong một môi trường trong sạch và bền vững.
Các quyền này, tại Việt Nam cũng được quy định rõ trong Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD (1999) và sau này là Luật Bảo vệ quyền lợi NTD (2010). Đó là: Quyền được lựa chọn hàng hoá, dịch vụ; được cung cấp các thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng; được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, môi trường; được hướng dẫn những hiểu biết về tiêu dùng; Quyền được bồi hoàn, bồi thường thiệt hại; được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; Quyền đóng góp ý kiến và yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải thực hiện đúng trách nhiệm của mình, quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá phải đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ thuộc nhu cầu thiết yếu đã đăng ký công bố; Quyền được thành lập tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và trực tiếp thông qua đại diện để thực hiện việc bảo vệ này. Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Theo “Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ quyền lợi NTD”, bảo vệ quyền lợi NTD là: bảo vệ NTD tránh khỏi những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn; ủng hộ vào bảo vệ các quyền lợi kinh tế của NTD; thông tin đầy đủ cho NTD để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân; giáo dục NTD, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế, 12 z xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của NTD. Thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho NTD; cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức NTD thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ; thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Sự phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN mà Việt Nam đang theo đuổi như hiện nay, luôn có mối hệ khăng khít, tác động qua lại với nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có tiêu dùng và NTD. Quan hệ giữa tiêu dùng và phát triển kinh tế 1. Vai trò của người tiêu dùng đối với tăng trưởng kinh tế GS John Quelch, Hiệu trưởng Trường kinh doanh quốc tế châu Âu - Trung Quốc, nguyên phó hiệu trưởng Trường kinh doanh Harvard (Hoa Kỳ) khi chia sẻ những nghiên cứu, phát hiện thú vị về xu hướng tiêu dùng thế kỷ 21 đã khẳng định: “Không có NTD, sẽ không có kinh doanh và cũng chẳng có doanh thu”. Thật vậy, theo lý thuyết kinh tế học, mô hình một nền kinh tế giản đơn mà người ta thường gọi là biểu đồ chu chuyển có hai vòng luân chuyển [19, tr.
Trong mô hình này, nền kinh tế có hai nhóm người ra quyết định là hộ gia đình (NTD) và doanh nghiệp (nhà sản xuất). Các hộ gia đình và doanh nghiệp tương tác với nhau trên hai thị trường: Thị trường hàng hóa và dịch vụ: Doanh nghiệp là người bán; Hộ gia đình là người mua sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) do doanh nghiệp sản xuất ra. Các hộ gia đình sẽ quyết định mua bao nhiêu hàng hóa mỗi loại thông qua nhu cầu của họ, biểu hiện ở mức giá mà họ sẵn sàng chi trả. 13 z Thị trường yếu tố sản xuất: Hộ gia đình là người bán, cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp; ba nguồn lực cơ bản đó là: Lao động, vốn và đất đai.
Trong khi đó, doanh nghiệp là người mua. Mô hình vòng chu chuyển này là mô hình đơn giản về nền kinh tế, nó bỏ qua nhiều chi tiết mà đối với các mục đích khác có thể rất quan trọng. Song mô hình đơn giản này cũng đủ để hiểu khái quát về cách thức tổ chức của nền kinh tế và nhận ra vai trò quan trọng của NTD đối với toàn bộ nền kinh tế. Chính họ là động lực thúc đẩy việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, nếu không có NTD thì sẽ không có sản xuất, không có NTD thì quá trình sản xuất không có mục tiêu.
Lúc đó, hàng hóa sản xuất ra không có nguồn tiêu thụ, sản xuất đình trệ, nền kinh tế sẽ dần đi vào khủng hoảng. Trên thực tế, NTD có vai trò quan trọng hơn trong cơ chế hoạt động tổng quát của nền kinh tế thị trường so với nền kinh tế chỉ huy. Thậm chí, các nền kinh tế thị trường đôi khi được miêu tả như là các hệ thống thuộc "chủ quyền của NTD" vì các quyết định chi tiêu hàng ngày theo sự lựa chọn của NTD sẽ quyết định một phần lớn đến việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ gì trong nền kinh tế. Nếu NTD dừng mua, hoặc nếu họ quyết định tiêu ít tiền hơn cho một sản phẩm - vì bất kỳ lý do gì - giá sẽ hạ xuống.
Nếu họ mua nhiều hơn, cầu tăng lên và giá sẽ tăng lên. Như vậy, có thể nói chi tiêu của NTD đại diện cho nguồn cầu căn bản đối với các sản phẩm được bán trên thị trường, ảnh hưởng phân nửa đến việc xác định giả cả thị trường của hàng hóa và dịch vụ. Nửa còn lại dựa trên quyết định của các doanh nghiệp về việc sản xuất cái gì và như thế nào. NTD cũng là chủ các nguồn lực, cung cấp các nguồn lực chủ yếu: Lao động, vốn và đất đai cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Đây là các yếu tố không thể thiếu được cho một quá trình sản xuất. Hơn nữa, những nguồn 14 z lực này đều là những nguồn lực có hạn, trong đó nguồn lao động vừa là đầu vào thông thường nhất vừa là đầu vào quan trọng đối với các nền công nghiệp tiên tiến và nó càng quan trọng trong một nền kinh tế tri thức. Chất lượng của nguồn nhân lực chi phối toàn bộ hành động của nền kinh tế, vì nó quyết định đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác. Ngoài ra, tác động qua lại giữa NTD và nhà sản xuất chính là tác động giữa cung và cầu là cơ sở để xác định hệ thống giá cả thị trường, lợi nhuận, thu nhập.
Tất cả những yếu tố này đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế. Nếu NTD không được bảo vệ, bị thiệt hại sẽ tác động tiêu cực đến các nhân tố khác của nền kinh tế. Chính vì vậy, NTD có quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe khi mau và sử dụng háng hóa của các nhà sản xuất hay kinh doanh. Không những thế, họ còn có quyền yêu cầu pháp luật bảo vệ cho họ trong trường hợp hàng hóa được họ mua gây thiệt hại về tài sản cho họ, ảnh hưởng đến sức khỏe của họ hoặc môi trường sống xung quanh.
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là thực hiện công bằng xã hội Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm sự thay đổi cả về lượng và về chất, là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là những mục tiêu hàng đầu của mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có thu nhập bình quân đầu người thấp, muốn nhanh chóng đạt được sự tiến bộ về kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới. Tất cả những tiến bộ, những tác động chuyển đổi nhanh chóng về mặt thể chế và cơ cấu cuối cùng cũng nhằm một mục đích là sao cho có thể mang lại một cách hiệu quả nhất những thành quả của tiến bộ kinh tế đến cho hầu hết các tầng lớp nhân dân của xã hội đó. 15 z Phát triển kinh tế luôn luôn gắn liền với công bằng xã hội.