CHƯƠNG 1: DIEU KIỆN VÀ MOI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CUA BÁO CHÍ BÌNH THUẬN Chiến thắng Tông tiến công và nôi đậy mùa xuân 1975 đã đặt dấu cham hết cho tham vọng bành trướng của dé quốc Mi ở Đông Dương. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà trong suốt 30 năm (1945 - 1975) giành được thắng lợi hoan toàn. Niém hân hoan phan khởi của nhân dan Việt Nam thé hiện rõ khi cùng nhau bắt tay kiến thiết quê hương. Một quốc gia vừa thoát khỏi chiến tranh đầy những khó khăn chồng chat đã quyết tâm tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa bỏ qua thời kì tư bản với những bước chân chập chững.
Liệu đó có phải là sự hoang tưởng viễn vông? Thời gian đầu bước vào giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã có khái niệm vẻ mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là khái niệm dựa trên cơ sở xây dựng theo mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu. Lý tưởng được hun đúc từ ước mơ về một xã hội công bang dan chủ và hạnh phúc. Tuy nhiên trong suốt hàng chục năm, các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đã không thực hiện được lý tưởng cao đẹp ấy. Vì sao? Trước hết là sự nhận thức chưa đầy đủ về chủ nghĩa xã hội, sau là vận dụng một cách xơ cứng, rip khuôn thiếu sáng tạo dẫn đến làm sai những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Marx — Lenin trong thực tiễn bởi quan điểm ấu trĩ rằng ta có thé xây dựng một mô hình chủ nghĩa xã hội trong thời gian ngắn dựa trên sở hữu toàn dan rộng lớn.
Hậu qua là những năm đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Việt Nam có lúc rơi vào tình trạng khủng hoảng. Đảng, chính phủ và nhân dân Việt Nam đứng trước thử thách đầu tiên của thời bình. Câu hỏi được dat ra: Làm gì dé giải quyết yêu cầu cấp bách của cuộc sống? Làm như thế nào để bắt nhịp với xu thể phát triển của thời đại mà không đi lệch hướng của sự kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong khi dién biến của các nước trên thé giới có những tác động nhất định đến nước ta? Người láng giéng Trung Quốc tiến hành cải cách theo đường lỗi riêng, người anh cá Liên Xô và Đông Âu cũng bat đầu công cuộc cải tô và có thê ké đến thành công cải cách trong chừng 14 mực của các nước không theo phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Á. Việt Nam cũng phải tiền hành cai cách như các nước đã làm?Và lịch sử đã chứng minh chúng ta đang có sự lựa chọn đúng: đôi mới ! Đại hội đại biêu toàn quốc lần thứ VI ( tháng 12/1986)- sự kiện trọng đại tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa hết sức quan trọng: công cuộc đôi mới ở Việt Nam chính thức bắt đầu.
"Đề tăng cường sức chiến dau va năng lực tô chức thực tiễn của minh, Dang phải đôi mới về nhiều mặt: déi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đôi mới tô chức; đôi mới đội ngũ cán bộ: đôi mới phong cách lãnh dao và công tác “. Đôi mới ở nước ta là quá trình xóa bỏ những yếu tổ không phủ hợp của mô hình chủ nghĩa xã hội cũ đẻ thay thế bằng các yếu tố mới tương thích với điều kiện xã hội thực tế của Việt Nam bởi Đảng chủ trương lấy việc ồn định vẻ chính trị và xã hội làm tiền dé quan trọng nhất cho sự nghiệp “thay da đổi thịt" đất nước trong đó xác định rõ trong tâm là phải đồi mới kinh tế. Chỉ có thé giải quyết yêu cầu cấp thiết của đời sông thì Đảng mới tạo dựng được niêm tin vào sự vững chắc của mái nhà xã hội chủ nghĩa trong nhân dân. Việc đôi mới tư duy được dé ra rất khái quát nhưng hết sức cơ bản và có ý nghĩa rất quan trọng cho việc tiếp tục đôi mới về sau.
Khi công cuộc đôi mới được trién khai vào chiều sâu thì đôi mới tư duy cảng được đây mạnh, bat cứ một sự ngưng trệ nào trong tư duy cũng đều làm ngưng trệ công cuộc đôi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời song xã hội. Thực tiễn đôi mới về kinh tế chính trị xã hội vừa là kết quả của đôi mới tư duy lại vừa đặt ra những yêu cầu mới cho việc tiếp tục đổi mới tư duy ở giai đoạn cao hơn. Ở Việt Nam, đôi mới không phải là từ bo mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội đi đến thang lợi. Đồi mới không phải là xa rời chủ nghĩa Mác — Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà là nhận thức vận dung sáng tạo và phát triển học thuyết, tư tưởng đó.
Đôi mới không phải là phủ định quá khứ mà là khang định những gì hiểu đúng, làm đúng; loại bó những gì hiéu sai làm sai, bồ sung những nhận thức mới, cách làm mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, nhiệm vụ mới. Thực hiện được những điều đó không đơn giản. Đây thực sự là cuộc dau tranh phức tạp giữa cái đúng và cái sai, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu lỗi thời, giữa cái cũ cản trở và cái mới thúc đây sự phát triên. 15 Thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa trên thế giới diễn ra cách đây hon 200 năm, nhưng tiễn hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp vô cùng mới mẻ, không đơn giản có thé phát triên nền kinh tế thị trường — tức quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng dưới sự lãnh đạo của tô chức đảng cộng sản nếu không có tư đuy và định hướng đúng.
Tham nhuan chủ trương của Đảng, Tinh uy, Đảng bộ và nhân dan tỉnh Thuận Hải ( nay là Bình Thuận)đã tạo nên một kì đại hội "đôi mới tinh nhà "— Đại hội VII Đảng bộ tỉnh Thuận Hải ( từ 12 đến 1§- 10-1986) “,,,ra sức tăng cường sự lãnh dao của các đảng bộ, phát huy hiệu lực quan lý của chính quyền.Đồi mới công tác quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển han sang cơ chế quản lý hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Phát triển giáo duc, văn hoá, y tế, xã hội đồng thời ra sức tăng cường nên quốc phòng toàn dan, giữ vũng an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hdi.” [2, 132;133] Hơn hai mươi năm tiến hành đổi mới cùng với đất nước, Bình Thuận đang có những bước chuyên rõ rệt. Đề nắm được điều kiện và môi trường hoạt động của báo chí Bình Thuận, chúng tôi đi vào làm rõ điện mạo kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như đặc điểm chính trị, lịch sử của tỉnh để có một cái nhìn tông quát và nhiều góc độ khác nhau của những nhân tố tác động đến hoạt động báo chí của địa phương. Điều kiện tự nhiên 1.
Vị trí địa lý Thuộc vùng kinh tế duyên hải Nam Trung Bộ, Bình Thuận có ranh giới địa phận hiện nay bao gồm: phía Đông bắc và phía Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Bắc và Tây bắc giáp tinh Lâm Đồng: phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Đông và Đông Nam giáp biển Dông. Quốc lộ 1A đi qua dai 178 km, đường sắt Bắc - Nam chạy qua dai 180 km. Tọa độ địa li: 1033'42' đến 11°33718"? vĩ độ Bắc; 107°23°41" đến 108”52'42'` kinh độ Đông. Nơi xa nhất tinh (trong đất liên): Phía Bắc: xã Phan Dũng, huyện Tuy Phong: phía Nam: xã Thắng Hải, huyện Hàm Tân; phía Đông: xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong: phía Tây: xã Trà Tân, huyện Đức Linh.
Diện tích đất tự l6 nhiên: 782. Vùng lãnh hai: 52. Binh Thuận có một đảo nho rộng 32 km’ cách đất liền 56 hải lý là huyện dao Phú Quý. Địa hình Bình Thuận là một dai đất hep, năm dọc cuối dãy Trường Sơn Nam, uốn cong về phía biển.
Địa hình nhìn tông quan thấp dan từ Tay sang Đông, có sự phân bậc, xoải theo hướng Bắc — Nam, nên có đủ các dang địa hình: Vùng núi chiếm 40,7% diện tích tự nhiên, đó là những day núi của khối Trường Sơn Nam chạy theo hướng Đông Bắc — Tây Nam từ phía bắc huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc tới miền Đông Bắc huyện Đức Linh. Vùng đôi gò với độ cao 30 — 35m chiếm 33,66% diện tích tự nhiên, tập trung ở các huyện Bắc Binh, Ham Thuận Bắc và phía bắc sông La Ngà. Vùng đồng bang chiếm 9,43% diện tích tự nhiên: đồng bang Tuy Phong tương đối nhỏ hẹp nhưng bằng phăng. Đồng bang Phan Thiết (Phan Thiết - Hàm Thuận)là một đồng bang ven biển có diện tích lớn nhất.
Đặc biệt, Bình Thuận có đồng bằng thung lũng sông La Nga (Tánh Linh)tương đối bằng phăng, điểm nôi bật ở đây là sông suối thường có sự xen kẽ và gờ sông, những nơi thấp nhất thường có những vệt than bùn chưa tan chảy hết hoặc trở thành những hồ như Biển Lạc (280 ha), Bàu Cát ở Gia An, Bàu Loan ở Đức Thuận, Bàu Sen (200 ha)ở Đa Kai v. Vùng đôi và cồn cát ven biên chiêm 15,22% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo các huyện từ Tuy Phong đến tận Hàm Tân và huyện Phú Quý, vùng rộng nhất là vùng Tây Nam huyện Bắc Bình, chạy doc theo hướng Đông Bắc — Tây Nam dai khoảng 52 km và rộng 20 km. Địa hình các đồi cát này không được bằng phẳng, chủ yếu là những đồi lượn sóng, ở một vài nơi có sự xói mòn do gió gây nên. Nói chung địa hình ven biển hau hết được cấu tạo từ cát có độ hạt và màu sắc khác nhau.
Khí hậu Bình Thuận có khí hậu nhiệt đới gió mùa, năm trong khu vực khô hạn nhất nước. Hàng năm có hai mùa mưa — nang, mỗi mùa kéo dai 6 tháng. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm từ 27°C đến 30°C, lượng mưa trung bình năm từ §00 đến 1600mm (thấp hon mức trung bình cả nước 1.900mm), là tỉnh ven biển ít khi có bão.
VỀ núi và rừng Bình Thuận có nhiều núi, nhưng núi không cao, hầu hết là những chi núi cudi cùng của cao nguyên Lang - Biang, nhô ra tận biên (như Vĩnh Tân, Vĩnh Hảo - Tuy Phong). Có một số ngọn núi tương đối cao như núi Ông (Tánh Linh — khoảng 1300m), núi Tà Cú (Hàm Thuận Nam)núi Tà — Zôn (Hàm Thuận Bắc). Doc theo biên Hòn Rom — Mũi Né (Phan Thiếu.