CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE CHUNG VE THONG TIN O NHIEM MOI TRUONG DO THI TREN BAO DIEN TU 1. Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về thông tin Thông tin là một trong những thuật ngữ được sử dụng nhiều trong lĩnh vực báo chí và truyền thông. Tùy vào mục đích tiếp cận, tùy vào từng ngành khoa học mà cách hiểu về khái niệm thông tin cũng khác nhau.
Về mặt truyền thông, thông tin được trình bày dưới dạng nội dung của thông điệp hoặc thông qua quan sát trực tiếp, gián tiếp. Thông tin cũng có thê được mã hóa dưới nhiều hình thức khác nhau dé truyền tải và giải thích. Theo Wikipedia, thông tin được định nghĩa là sự giải quyết sự không chắc chắn, nó trả lời cho câu hỏi “thực thể là gì?”. Như vậy, có thé xác định được cả bản chất của các đặc tính đó.
Thông tin được liên kết với các dữ liệu vì dữ liệu đại diện cho các gia tri sẽ được gan cho các tham SỐ. Thông tin là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng, su việc của thế giới khách quan, các hoạt động của con người trong đời sống xã hội. Con người sẽ tiếp nhận thông tin dé tăng thêm hiéu biết cũng như thực hiện hoạt động có ích hơn cho cộng đồng. Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa thông tin với ý nghĩa là động từ được hiểu là truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết, danh từ nghĩa là tin tức được truyền đi cho biết.
Trong cuốn sách “Cơ sở lý luận báo chí” của nhóm tác giả trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thông tin được định nghĩa là công cụ chính để báo chí thực hiện mục đích của mình. Thông tin trở thành môi giới giữa báo chí và công chúng. Nó là “dụng cụ làm việc” với sự giúp đỡ của dụng cụ đó, 10 những công việc đó như một hệ thong xã hội đặc biệt. Đó là ly do tai sao báo chí bao gồm tất cả các tô chức thông tin thuộc nhiều loại hình khác nhau, ở các cấp độ khác nhau với ý nghĩa là tất cả các phương tiện thông tin đại chúng.
Theo quan điểm của nhóm tác giả cuốn sách “Co sở lý luận báo chi” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền do PGS. Nguyễn Văn Dững chủ biên năm 2005, từ thông tin được dùng với nhiều ý nghĩa khác nhau trong tình huỗng cụ thê: “Thong tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo. Trong trường hợp này người ta xem chất lượng nội dung thông báo bằng lượng thông tin” được chuyên đến đối tượng tiếp nhận. Trong luận văn Thạc sĩ Báo chí học với đề tài “Thông tin đối ngoại về văn hóa trên báo chí”, tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền khẳng định “7hồng tin là tin tức, thông báo, tri thức vỀ một sự vật, hiện tượng chứa đựng trong các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng qua các phương thức thích hợp ”.
Theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) băng ký hiệu, hình ảnh, ngôn ngữ. hay rộng hơn là bằng tất cả phương tiện tác động lên nhận thức của con người. Trong lĩnh vực viễn thông, thông tin là tất cả các hoạt động nhằm mục đích vận chuyên và đảm bảo tính chính xác của thông điệp. Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, thông tin hoạt động chủ yếu dựa trên nội dung của các thông điệp, đặc biệt là khi tiếp xúc với công chúng.
Trong lĩnh vực báo chí, thông tin được dùng để chỉ chất lượng thông tin sống. Thông tin báo chí có thé chia thành nhiều cấp độ khác nhau như: cấp độ đầu tiên là thông tin mô tả, là xuất phát điểm của mọi sự định hướng trong hoạt động thực tế của công chúng. Đó là những sự kiện, van đề, hiện tượng, qua trình của các hiện thực được mô tả, hình thành trên báo chí bức tranh về hiện 11 thực đời sống. Thông tin phân tích là thông tin được hình thành trên cơ sở tư duy của nhà báo về những cái đang có.
Các sự kiện, vấn đề của đời sống sẽ được mồ xẻ, phân tích bởi nhà báo, phóng viên nhằm tim ra các mỗi quan hệ, yếu tô ảnh hưởng đồng thời phát hiện ra nguyên nhân, hậu quả mà chúng mang lại. Thông tin khái quát là thông tin về bản chất, giá trị của sự kiện, hiện tượng van đề của cuộc sông. Day là kết quả của việc mô tả, phân tích sự kiện, van dé, quá trình, tìm ra những mỗi quan hệ bản chất, xác định giá trị của chúng với công chúng. Thông tin hướng dẫn là thông tin cung cấp cho công chúng những hình dung cụ thé nhất về phương hướng, phương pháp hành động, mục đích và khả năng có thể đạt được dựa trên các điều kiện thực tế.
Tóm lại, thông tin là những thông điệp nhăm chia sẻ trí thức, kỹ năng, kinh nghiệm. giữa các đối tượng giao tiếp một cách tương đối bình đăng, nhiều chiều, nhằm mục đích nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ tiến tới điều chỉnh hành vi theo hướng tích cực hóa hoạt động thực tiễn.2 Khái niệm môi trường Chúng ta thường nghe về cụm từ bảo vệ môi trường, ô nhiêm môi trường nhưng dé hiểu môi trường là gi thì không phải ai cũng biết. Theo Luật Bảo vệ Môi trường được ban hành vào ngày 29/12/2005, môi trường được định nghĩa là tập hợp các yếu tố tự nhiên và yếu tô vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. Môi trường được tạo ra bởi các yếu tố như: không khí, đất, ánh sáng, nước, âm thanh, núi, rừng, lòng đất, sông, hồ, biên, hệ sinh thái, sinh vật, khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, di tích lịch sử, danh lam thang cảnh, cảnh quan thiên nhiên và các dạng vật chất khác.
Trong đó: 12 Không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên, hệ sinh thái. là các yếu tố tự nhiên. Chúng xuất hiện và tồn tại không bị phụ thuộc vào ý muốn hay tác động của con người. Khu vực sản xuất, khu dân cư, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, khu bảo tồn thiên nhiên.
là những yếu tố vật chất do bản tay con người tạo ra. Chúng xuất hiện, tồn tại và phát triển phụ thuộc vào ý chí của con người. Không khí, đất đai, nước, khu dân cư. là một trong những yếu tổ cơ bản giúp duy trì sự sống của con người.
Cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tính lịch sử, khu bảo tổn thiên nhiên. giúp cuộc sống xung quanh trở nên hap dan và thú vị hơn. Theo Wikipedia, môi trường là tổ hợp các yếu tổ tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoai của một hệ thống hoặc một cá nhân, một sự vật nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này, xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.
Môi trường có thé được coi là một tập hợp, hệ thống dang xem xét là một tập hơn con. Theo chức năng, môi trường sống của con người được chia thành các loại: Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố như: vật lý, sinh học, hóa học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng sẽ chịu tác động của con người một phần ít hoặc nhiều. Đó là ánh sáng mặt trời, sông núi, biển cả, động vật, thực vat, đất nước, không khí. Môi trường tự nhiên cho chúng ta không khí dé hô hấp, đất để làm nhà, chăn nuôi, trồng trọt; cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần thiết cho sản xuất và tiêu dùng, đồng thời cũng là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, mang đến cho con người không gian, cảnh đẹp dé thưởng thức, giải trí, làm cuộc sống trở nên phong phú hơn.
Môi trường xã hội là tong thé các mối quan hệ giữa con người với nhau. Đó là những quy định, quy ước, luật lệ, thê chế, cam kết. ở các cấp khác nhau 13 như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, dòng tộc, gia đình, làng xã, hội nhóm, các tổ chức đoàn thé, các tổ chức tôn giáo. Môi trường xã hội giúp hoạt động của con người được thực hiện theo một khuôn khổ nhất định, từ đó tạo ra sức mạnh tập thé, thuận lợi trong việc phát triển kinh tế xã hội, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
Ngoài ra, khái niệm môi trường nhân tạo còn được phân biệt bao gồm tất các các nhân tốt do con người tạo ra, làm nên những tiện ích, tiện nghi trong cuộc sông như: ô tô, máy bay, văn phòng, nhà ở, cao ốc, các khu đô thi, công viên nhân tạo. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho việc sinh sống, lao động sản xuất của con người như: không khí, đất, nước, ánh sáng, tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan, quan hệ xã hội. Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, chỉ bao gom cac yếu tố tự nhiên và xã hội anh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sông con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà nhà trường, thầy cô giáo, bạn học, nội quy của trường lớp, sân chơi, phòng học, phòng thí nghiệm, tô chức Đoàn, Đội.
được công nhận, chấp hành theo cơ quan hành chính với các cấp luật pháp, nghị định, thông tư, quy định. Tom lại, môi trường là tat cả những gì có xung quanh chúng ta, cho chúng ta cơ sở dé sông và phát trién. Khái niệm ô nhiễm môi trường đô thị Hiện nay, ô nhiém môi trường đang là van đề nhức nhối không chi ở Việt Nam mà còn xảy ra ở nhiều quốc gia khác. Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường không còn được giữ như ban đầu mà đã bị thay đổi gây nguy hại đên sức khỏe của con người và các sinh vật khác.
O nhiễm môi trường 14 chủ yếu do tác động trực tiếp của con người và một số hoạt động từ tự nhiên khác. Đô thị là một trung tâm dân cư đông đúc, có thé là thành phó, thị xã hoặc thị tran. Các đô thị này được hình thành và phát triển thêm trong quá trình đô thị hóa. Việc đo đạc tầm mở rộng của các đô thị sẽ giúp việc phân tích mật độ dân số, tìm hiểu mở rộng diện tích đô thị, thống kê số liệu về dân số thành thị và nông thông nhanh chóng, dễ dàng hơn.