mở đầu cuộc xâm lƣợc Việt Nam lần thứ hai. Ngoài lực lƣợng của quân Tƣởng, Anh, Pháp, trên đất nƣớc ta lúc đó có khoảng 6 vạn quân Nhật. Trong lúc chờ giải giáp, một bộ phận của đội quân Nhật đã đƣợc quân Anh sử dụng, đánh vào lực lƣợng vũ trang của ta, dọn đƣờng cho quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn và nhiều vùng ở miền Nam. Dựa vào thế lực quân đội nƣớc ngoài, các lực lƣợng phản cách mạng trong cả nƣớc đã lần lƣợt ngóc đầu dậy chống phá chính quyền cách mạng.
Chƣa lúc nào trên đất nƣớc Việt Nam có nhiều kẻ thù nhƣ vậy! Giặc ngoài, thù trong, khó khăn chồng chất khó khăn đè nặng lên đất nƣớc ta, đặt chính quyền cách mạng trƣớc một tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”! Vận mệnh độc lập tự do của dân tộc vừa mới giành đƣợc đang đứng trƣớc nguy cơ mất còn! Trọng trách nặng nề đối với dân tộc đã giao phó cho Đảng và Chính phủ nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, do Hồ Chí Minh đứng đầu, với tƣ cách là ngƣời lãnh đạo và quản lý điều hành cao nhất của đất nƣớc. Căn cứ vào phƣơng hƣớng và nhiệm vụ, chiến lƣợc và sách lƣợc do Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội họp tháng 8.1945 đã thông qua, ngay sau khi về Hà Nội, Ban Thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng và Chính phủ đã đề ra những nhiệm vụ và biện pháp cấp bách đầu tiên để bảo vệ và xây dựng đất nƣớc. Đặc biệt ngày 25.1945, Ban Thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng đã ra bản chỉ thị quan trọng “Kháng chiến, kiến quốc”, xác định nhiệm vụ chiến lƣợc, nhiệm vụ trƣớc mắt và những chính sách lớn để chỉ đạo hành động của toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh nhằm giữ vững quyền độc lập tự do, bảo vệ chế độ mới. Trải qua hơn một năm đấu tranh bảo vệ và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, những khó khăn ban đầu đã đƣợc đẩy lùi.
Tiềm lực của Nhà nƣớc z - 13 - cách mạng đƣợc tăng cƣờng một bƣớc, tạo nên thế và lực mới cho toàn dân ta bƣớc vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nƣớc. Có đƣợc những thắng lợi đó là do toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ, thực hiện sự nghiệp vẻ vang “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” dƣới sự lãnh đạo của Đảng. Quan điểm, chính sách báo chí của nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa Trƣớc áp lực của các thế lực chính trị phản động, để bảo vệ những thành tựu của chính quyền cách mạng giành đƣợc, Đảng cộng sản Đông Dƣơng đã thi hành chính sách mềm dẻo: tuyên bố tự giải tán vào tháng 11. Tuy nhiên đây chỉ là sự giải tán về hình thức, trên thực tế Đảng vẫn trực tiếp lãnh đạo cách mạng trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.
Đảng ta vẫn luôn lãnh đạo sát sao hoạt động của cách mạng và Nhà nƣớc thông qua Mặt trận Việt Minh. Sự hoạt động hiệu quả của báo chí cách mạng chính là công cụ để tổ chức này thực hiện các nhiệm vụ của mình. Vì vậy, sự tồn tại của báo chí cách mạng cũng nhƣ vị trí công khai của nó đƣợc quy định bởi vai trò của Nhà nƣớc và Mặt trận Việt Minh. Quan điểm, chính sách báo chí của nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đƣợc coi nhƣ là những cơ sở pháp lý và những định chế chính trị giúp cho hoạt động báo chí phát triển.
Về pháp lý, không thể đơn giản dùng những văn bản pháp quy của chính quyền thực dân Pháp đã áp dụng ở nƣớc ta. Nhƣng cũng không thể vứt bỏ tất cả ngay, mà phải xem những điều nào, điểm nào có thể dùng đƣợc, miễn là cải tạo nó đi, bổ sung và cụ thể hóa cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Chính phủ có nhiệm vụ ban hành những văn bản pháp quy về báo chí, từ một vài điểm cụ thể, tiến tới một sắc lệnh quy định có hệ thống, đầy đủ về các vấn đề thuộc báo chí và có liên quan đến báo chí. Trƣớc hết phải nhắc đến Sắc lệnh số 47 của Chủ tịch nƣớc ký ngày 10.1945 về việc duy trì tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ xã hội cũ.
Khi nào có Nghị định hay Sắc lệnh mới về báo chí thay thế thì mọi thể lệ cũ sẽ không còn giá trị. Việc duy trì này phải đảm bảo điều kiện kiên quyết là các luật lệ đó không trái với các nguyên tắc độc lập tự do. Toàn bộ hoạt động xã hội về z - 14 - cơ bản vẫn diễn ra trên cơ sở những luật lệ của chế độ xã hội cũ. Sự tồn tại và phát triển của báo chí cách mạng cũng gắn liền với thực tế này.
Trong chế độ xã hội cũ, đất nƣớc bị chia cắt làm ba kỳ với ba chế độ chính trị khác nhau. Bƣớc sang thời kỳ mới, sự độc lập tự do của chúng ta là thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ, thế nhƣng chúng ta vẫn phải áp dụng luật lệ hoạt động báo chí của chế độ xã hội cũ với thể chế 3 kỳ. Do đó sự phát triển của báo chí cách mạng từ năm 1945 về sau trên tinh thần sắc lệnh ngày 10.1945 hoàn toàn không có giá trị. Bởi lẽ trên đất nƣớc Việt Nam thống nhất chỉ có một nền báo chí chứ không phải có ba nền báo chí ở ba kỳ.
Sự phát triển của báo chí từ năm 1945 về sau gắn liền với sự kiểm soát của chính quyền mới, cụ thể là sự kiểm soát của chính quyền cách mạng trong hoạt động ra báo. Tiếp đó, Trung ƣơng Đảng đã bí mật đƣa ra Chỉ thị tháng 11. Thực chất đây là sự chỉ đạo sách lƣợc tuyên truyền với những mục tiêu cụ thể sau: Đoàn kết với mọi đối tƣợng để chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lƣợc. Trong quá trình tuyên truyền không đƣợc đối lập các lực lƣợng xã hội dƣới gốc độ chủng tộc, không đƣợc công kích nƣớc Pháp nói chung, phải tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Pháp để cô lập những thực dân hiếu chiến.
Chống âm mƣu chia rẽ dân tộc xuất phát từ tồn tại lịch sử: đất nƣớc bị chia làm ba kỳ và tình trạng đa sắc tộc của dân tộc Việt Nam. Nhiệm vụ này đòi hỏi phải đoàn kết mọi ngƣời dân yêu nƣớc để thực hiện nhiệm vụ chung bảo vệ nền độc lập tự do. Chống sự thống nhất vô nguyên tắc với các lực lƣợng khác trong xã hội. Điều này cho thấy sự thống nhất giữa các lực lƣợng chỉ có thể diễn ra trên nguyên tắc của tinh thần yêu nƣớc và của ý thức bảo vệ độc lập tự do.
Đề cao cảnh giác, chống sự phá họai của các tổ chức chính trị phản động nhƣ: Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt. Ngoài ra Đảng ta chú trọng đối phó với tổ chức kẻ thù nguy hiểm tơrốtkit chống phá cách mạng. Đề cao sự tin tƣởng vào thắng lợi của cách mạng. Lúc này các thế lực phản động đang ra sức chống phá điên cuồng hòng toan tính lật đổ chính quyền cách mạng.
Do đó chính quyền cách mạng phải khôn khéo, mềm dẻo để bảo vệ thắng lợi đạt đƣợc nhất là trên mặt trận thông tin tuyên truyền.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41 quy định chế dộ kiểm duyệt báo chí. Sắc lệnh này ra đời sau khi Chính phủ liên hiệp kháng chiến thành lập, đƣợc Quốc hội công nhận ngày 2. Thành phần Chính phủ đã có sự nhân nhƣợng, để cho một số thành viên của Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam cách mệnh đồng minh hội tham gia thay mặt cho một số đại biểu của họ trong Quốc hội không do quốc dân bầu ra. Sắc lệnh đã phản ánh tình hình thực tế phức tạp đó.
Sắc lệnh có ba mục.Mục thứ nhất “Thể lệ xuất bản” gồm ba điều sau: 1. Các báo ngày hay xuất bản định kỳ, theo mẫu quy định; khi thay đổi những điều đã khai trƣớc phải khai lại trong hạn 48 giờ. Mỗi tờ báo phải có ngƣời quản lý từ 21 tuổi trở lên, có quyền công dân. Tên, họ ngƣời quản lý; tên và địa chỉ nhà in phải in ở các số báo.
Trƣớc khi phát hành phải nộp cho cơ quan kiểm duyệt, phòng biện lý nơi phát hành, phòng báo chí Bộ Nội vụ, Nha lƣu trữ công văn hai số báo có chữ ký của ngƣời quản lý. Mục thứ hai của Sắc lệnh số 41 quy định kiểm duyệt: các bài báo sẽ đƣợc in sau khi Ty kiểm duyệt cấp Kỳ đã duyệt. Hội đồng kiểm duyệt đặt tại Bộ Nội vụ, có 5 ngƣời, do Nghị định của Bộ trƣởng Bộ Nội vụ cử ra. Mục thứ ba: quy định các mức trừng phạt, từ tịch thu đến phạt tiền.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ký Sắc lệnh số 18 về việc “lƣu chiểu văn hóa phẩm”, trong đó có lƣu chiểu báo và tạp chí, “tàng trữ các vật phẩm ấy dùng để làm tài liệu cho nền văn hóa quốc gia”.
Sở lƣu chiểu văn hóa phẩm đƣợc thành lập, trực thuộc Bộ giáo dục quốc gia. Bộ Thông tin - Tuyên truyền, thành viên của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đƣợc công bố thành lập ngày 28.1945, sau đó đổi tên là Bộ Tuyên truyền và Cổ động ngày 1-1-1946. Đồng chí Trần Huy Liệu đƣợc cử làm Bộ trƣởng. Bộ này ra đời đã nắm vững quyền lực thông tin Nhà nƣớc, xây dựng hệ thống tổ chức thông tin cả nƣớc, tăng cƣờng lực lƣợng báo chí của z - 16 - các cơ quan, đoàn thể cách mạng.
Sự kiện đó cho thấy ngành Văn hóa và Thông tin đƣợc khai sinh ra từ Cách mạng Tháng Tám, và sự hình thành phát triển của nó luôn gắn liền với từng giai đoạn đấu tranh cách mạng, dƣới sự lãnh đạo của Đảng. Sau khi Quốc hội khóa 1 họp ngày 2.1946 thành lập Chính phủ Liên hiệp chính thức đầu tiên thì Bộ Tuyên truyền và Cổ động không còn nữa. Cho đến ngày 13.1946, Nha Tổng giám đốc thông tin, tuyên truyền mới đƣợc tổ chức dƣới quyền chỉ huy và kiểm soát trực tiếp của Bộ Nội vụ, do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trƣởng, bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng làm Tổng giám đốc; và đến ngày 27-11-1946 đổi thành Nha thông tin. Các cơ quan phụ thuộc Tổng nha lúc đó có Đài Tiếng nói Việt Nam, Ty nhận tin vô tuyến điện, Ty kiểm soát giấy, Ty kiểm duyệt báo chí và sách.
Mỗi Kỳ, đến kháng chiến toàn quốc chia thành các Liên khu, có một Sở Thông tin; mỗi tỉnh, thành phố có một Ty Thông tin; ở cấp huyện và xã do một ủy viên ủy ban hành chính phụ trách.