Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo Việt Nam trước năm 1945 của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thảo được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (Mã số: 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Lê Giang.

Tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ vai trò của báo chí trong tiến trình hiện đại hóa văn hóa dân tộc. Bước sang những thập niên đầu thế kỷ XX, báo chí tiếng Việt đã tác động sâu sắc đến đời sống xã hội trên cả hai bình diện chính trị và văn nghệ. Về văn học, báo chí là nhân tố quan trọng cho sự định hình và phát triển của nền văn học chữ Quốc ngữ, đúng như nhận định của Thiếu Sơn trong bài diễn thuyết năm 1933 tại Hội Nam Kỳ Khuyến học: "Trong những nước văn minh, văn học ra đời trước báo chí, nhưng ở Việt Nam, chính báo chí đã tạo nên nền văn học hiện đại". Cùng với phong trào Chấn hưng Phật giáo khởi phát từ cuối thập niên 1920, hàng loạt tạp chí và tờ báo Phật học Quốc ngữ ra đời như Từ bi âm, Duy tâm Phật học, Viên âm, Đuốc tuệ, Tiếng chuông sớm... Tuy nhiên, các ấn phẩm này trong một thời gian dài chưa được khảo sát một cách toàn diện và thỏa đáng. Việc nghiên cứu đề tài này lấp đầy khoảng trống tư liệu, phục dựng diện mạo báo chí Phật giáo, đồng thời làm rõ sự tương tác giữa tư tưởng triết học Phật giáo và văn học chữ Quốc ngữ giai đoạn trước năm 1945.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung:

  1. Giới thiệu và phục dựng một cách có hệ thống lịch sử hình thành, diện mạo, tôn chỉ hoạt động và tình hình xuất bản của báo chí Phật giáo Việt Nam trước năm 1945.
  2. Trình bày, luận giải các vấn đề Phật học cốt lõi thể hiện trên báo chí Phật giáo, bao gồm thế giới quan Phật giáo, tư tưởng đạo đức học, cùng mối quan hệ giữa Phật giáo với dân tộc và đại chúng.
  3. Phân tích các đặc điểm, giá trị nội dung và nghệ thuật của mảng văn học Phật giáo trên báo chí đương thời qua các thể loại: dịch thuật kinh điển, thơ ca và văn xuôi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống văn bản, bài viết thuộc mảng Phật học và văn học đăng tải trên các ấn phẩm báo chí Phật giáo Việt Nam xuất bản trước năm 1945. Tổng cộng có 15 ấn phẩm được khảo sát trực tiếp (gồm 13 tạp chí và 2 tờ báo).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu bao quát báo chí Phật giáo tại ba miền Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ; nguồn tài liệu gốc được thu thập chủ yếu tại Thư viện Quốc gia (Hà Nội), các thư viện Phật học, tự viện và tủ sách tư nhân.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát từ số báo Phật giáo chữ Quốc ngữ đầu tiên năm 1929 (Pháp âm) cho đến mốc lịch sử tháng 8 năm 1945.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến báo chí Phật giáo và phong trào Chấn hưng Phật giáo:

  • Nguyễn Văn Ẩn (1972) với khóa luận tốt nghiệp Báo chí tôn giáo tại Việt Nam (Viện Đại học Vạn Hạnh): Trình bày sự hình thành các tờ báo Phật giáo giai đoạn 1920-1945 (Pháp âm, Phật hóa Tân Thanh niên, Từ bi âm, Bát nhã âm, Tiến hóa, Duy tâm Phật học, Bồ đề, Viên âm, Tam bảo, Đuốc tuệ, Tiếng chuông sớm), đề cập đến các cuộc bút chiến nội bộ giữa Từ bi âm và Tiến hóa, tranh luận về thế giới Tây phương cực lạc, canh tân Phật giáo và giáo lý giữa các báo, tuy nhiên chưa dẫn chứng và phân tích cụ thể.
  • Nguyễn Lang (1985/2000) với Việt Nam Phật giáo sử luận (Tập 3): Khảo sát tương đối chi tiết về phong trào Chấn hưng và hoạt động của 11 tờ báo, tạp chí Phật giáo; nhấn mạnh vai trò của chữ Quốc ngữ trong việc phổ thông hóa giáo lý. Tuy nhiên, công trình chưa đề cập đến tạp chí Bồ đề, Phật pháp chỉ Niết bàn và hầu như chưa đi sâu vào mảng văn học Phật giáo.
  • Trần Văn Giàu (1988) với công trình Triết học và tư tưởng (Nxb TP.HCM): Khảo sát các tờ báo Từ bi âm, Viên âm, Duy tâm Phật học, Đuốc tuệ... để phân tích những vấn đề tư tưởng triết học được đặt ra như Thượng đế, linh hồn, thiên đường, địa ngục; song công trình chưa dành sự quan tâm đến mảng tác phẩm văn học trên báo chí.
  • Thích Thanh Đạt (1994) với khóa luận Báo chí Phật giáo với phong trào Chấn hưng Phật giáo (1930-1945) (Đại học Tổng hợp Hà Nội): Giới thiệu khái quát tư tưởng triết học Phật giáo nhưng nguồn tư liệu chưa thật sự bao quát.
  • Huỳnh Văn Tòng (2000) với Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 (Nxb TP.HCM): Thống kê thư mục báo chí Phật giáo nhưng có nhiều nhầm lẫn về năm đình bản (Từ bi âm đình bản năm 1945 chứ không phải 1941; Viên âm đình bản năm 1945 chứ không phải 1936; Đuốc tuệ đình bản năm 1945 chứ không phải 1939; Tam bảo đình bản năm 1938 chứ không phải 1939; Tiến hóa đình bản năm 1941 chứ không phải 1939) và tên người đứng đầu ban quản trị (chủ nhiệm Tiến hóa là Đỗ Kiết Triệu chứ không phải Đỗ Kiết Tuân; chủ nhiệm Duy tâm Phật học là Nguyễn Văn Ân chứ không phải Nguyễn Văn An).
  • Đỗ Quang Hưng chủ biên (2000), Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945 (Nxb ĐHQGHN): Thống kê ngắn gọn về Viên âm, Đuốc tuệ, Quan âm, Tinh tiến...
  • Trương Ngọc Tường và Nguyễn Ngọc Phan (2007), Báo chí ở Thành phố Hồ Chí Minh: Ghi nhận Pháp âm là tạp chí Quốc ngữ Phật giáo đầu tiên ở Sài Gòn và vai trò của nhà báo Xích Liên (sư Thiện Chiếu).
  • Nguyễn Đại Đồng (2008), Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929-2008) và các công trình tư liệu xuất bản cùng Nguyễn Thị Minh (2008): Trình bày khá toàn diện về báo chí Phật giáo 1929-1946 nhưng còn thiếu tạp chí Phật pháp chỉ Niết bàn.
  • Các bài viết và luận văn khác của Dương Trung Quốc (2005), Lê Thị Hồng Hạnh (2010), Thích Thiện Bảo (2000), Trần Kiêm Đạt (2008), Nguyễn Ngọc Phan (2012)...

Khoảng trống học thuật luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chỉ tiếp cận từng khía cạnh lịch sử báo chí hoặc tư tưởng triết học đơn lẻ, tồn tại một số sai sót về niên đại và thư mục, đồng thời để trống mảng nghiên cứu văn học. Luận án đặt mục tiêu bao quát toàn diện cả 15 ấn phẩm, chỉnh lý các dữ liệu lịch sử chưa chính xác, đồng thời khảo sát chuyên sâu sự kết hợp giữa tư tưởng Phật học và thành tựu văn học trên báo chí Phật giáo trước 1945.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai nghiên cứu định tính dựa trên sự kết hợp giữa thi pháp học, văn học sử, báo chí học và lịch sử tư tưởng tôn giáo. Khung lý thuyết của công trình đặt văn học và tôn giáo trong mối quan hệ tương tác với bối cảnh văn hóa - xã hội Việt Nam thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến, khi chữ Quốc ngữ dần thay thế chữ Hán và phương tiện in ấn hiện đại trở thành công cụ truyền bá tư tưởng.

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

  1. Phương pháp thống kê - phân loại: Áp dụng để thống kê toàn bộ các bài viết, ấn phẩm báo chí Phật giáo, lập danh mục tác giả, phân loại các chủ đề triết học Phật học (thế giới quan, đạo đức học, nhân sinh quan) và phân loại các thể loại văn học (thơ ca, văn xuôi, dịch thuật kinh điển) được công bố trên báo chí trước 1945.
  2. Phương pháp phân tích - so sánh - tổng hợp: Dùng để phân tích nội dung các bài viết triết lý; so sánh các quan điểm thảo luận, bút chiến giữa các tờ báo (như giữa Từ bi âm và Tiến hóa, giữa Tiến hóa và Duy tâm Phật học, Viên âm); tổng hợp các giá trị nội dung, tư tưởng và đặc điểm nghệ thuật của thơ ca và văn xuôi Phật giáo trong tiến trình hiện đại hóa văn học.
  3. Phương pháp lịch sử - xã hội: Đặt sự xuất hiện của báo chí và văn học Phật giáo trong mối liên hệ mật thiết với bối cảnh xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, phong trào Duy tân, chính sách cai trị của thực dân Pháp và phong trào chấn hưng Phật giáo chung tại các nước châu Á.

Nguồn dữ liệu: Toàn văn 15 tờ báo và tạp chí Phật giáo xuất bản trước 1945 thu thập từ các nguồn lưu trữ; các văn bản kinh điển Hán Nôm và Quốc ngữ đương thời; cùng các công trình nghiên cứu lịch sử, văn học và tôn giáo liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Dưới đây là bảng tổng hợp 15 ấn phẩm báo chí Phật giáo Việt Nam trước năm 1945 được khảo sát trong luận án:

STT Tên ấn phẩm Loại hình Thời gian hoạt động Khu vực xuất bản Cơ quan chủ quản / Nhân vật phụ trách chính
1 Pháp âm Tạp chí 1929 (ra 1 số) Nam Kỳ (Mỹ Tho) HT. Khánh Hòa, HT. Huệ Quang, sư Thiện Chiếu
2 Phật hóa Tân Thanh niên Tạp chí 1929 (ra 1 số) Nam Kỳ (Sài Gòn) Sư Thiện Chiếu
3 Từ bi âm Tạp chí 1932 - 1945 Nam Kỳ (Sài Gòn) Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (HT. Khánh Hòa, HT. Bích Liên)
4 Viên âm Tạp chí 1933 - 1945 Trung Kỳ (Huế) Hội An Nam Phật học (Tâm Minh Lê Đình Thám)
5 Đuốc tuệ Báo 1935 - 1945 Bắc Kỳ (Hà Nội) Hội Phật giáo Bắc Kỳ (Nguyễn Năng Quốc, Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha)
6 Tiếng chuông sớm Tạp chí 1935 - 1936 Bắc Kỳ (Hà Nội) Hội Bắc Kỳ Cổ sơn môn (HT. Thanh Tường)
7 Duy tâm Phật học Tạp chí 1935 - 1943 Nam Kỳ (Trà Vinh) Hội Lưỡng Xuyên Phật học (HT. Khánh Hòa, HT. Huệ Quang)
8 Bồ đề Tạp chí 1936 Nam Kỳ (Sóc Trăng) Hội Phật giáo Tương Tế (HT. Phước Chí)
9 Bát nhã âm Tạp chí 1936 - 1943 Nam Kỳ (Bà Rịa) Hội Thiên Thai Thiền giáo tông liên hữu (Tổ Huệ Đăng)
10 Pháp âm Phật học Tạp chí 1937 - 1938 Nam Kỳ (Chợ Lớn) Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội (Minh Trí)
11 Tam bảo (Tam bảo chí) Tạp chí 1937 - 1938 Trung Kỳ (Đà Nẵng) Hội Đà Thành Phật học
12 Tiến hóa Tạp chí 1938 - 1941 Nam Kỳ (Rạch Giá) Hội Phật học Kiêm Tế (HT. Trí Thiền, Sư Thiện Chiếu, Đỗ Kiết Triệu)
13 Quan âm Tạp chí 1938 - 1943 Bắc Kỳ (Hà Nội) Hội Phật giáo Bắc Kỳ
14 Phật pháp chỉ Niết bàn Tạp chí 1941 Nam Kỳ Xuất bản tại Nam Kỳ
15 Tinh tiến Báo 1945 Bắc Kỳ (Hà Nội) Xuất bản tại Hà Nội

Chương 1: Phong trào Chấn hưng Phật giáo và báo chí Phật giáo Việt Nam trước 1945

Chương này trình bày bối cảnh lịch sử, nguyên nhân, tiến trình của phong trào Chấn hưng Phật giáo và diện mạo báo chí Phật giáo tại ba miền đất nước từ cuối thập niên 1920 đến năm 1945.

  • Bối cảnh và nguyên nhân: Đầu thế kỷ XX, chính quyền thực dân thực hiện chính sách nâng đỡ đạo Công giáo, loại bỏ chữ Hán để thay bằng chữ Pháp. Kinh sách Phật giáo thời bấy giờ đều bằng chữ Hán, người dân không đọc được dẫn đến tình trạng suy vi của Phật giáo. Chùa chiền thiếu trường đào tạo quy củ, một bộ phận tăng chúng tha hóa, chỉ lo việc cúng đám cầu tài vật, khiến đạo Phật bị đồng hóa với các hủ tục mê tín dị đoan. Trước tình hình đó, phong trào Chấn hưng nổ ra do tác động từ ba nhóm nguyên nhân:

    1. Nguyên nhân quốc tế: Khủng hoảng kinh tế tư bản (1920-1930); ảnh hưởng từ trào lưu Duy tân của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, tư tưởng khai sáng Pháp (Voltaire); đặc biệt là phong trào phục hưng Phật giáo tại Tích Lan, Ấn Độ (David Hewavitarane / Dharmapala thành lập Hội Đại Bồ đề) và Trung Quốc (Thái Hư thành lập Phật học viện Vũ Xương, tạp chí Hải triều âm; Dương Nhân Sơn lập Kỳ Hoàn Tịnh xá).
    2. Nguyên nhân xã hội trong nước: Phong trào Duy tân cổ vũ "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh"; các sĩ phu như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đánh giá cao vai trò của Phật giáo đối với nền tự cường dân tộc; sự cạnh tranh của các phong trào tôn giáo mới như Cao Đài (1926) và Phật giáo Hòa Hảo (1939).
    3. Nguyên nhân nội tại: Ý thức tự chỉnh đốn tăng giới, bài trừ mê tín của các tăng sĩ và trí thức có nhiệt tâm.
  • Hoạt động chấn hưng và báo chí ba miền:

    • Nam Kỳ: Nơi khởi xướng phong trào với sự tham gia của HT. Khánh Hòa, HT. Huệ Quang, HT. Khánh Anh, Sư Thiện Chiếu. Các tổ chức lần lượt thành lập: Lục Hòa Liên hiệp (1923), Thích Học đường và Phật học Thư xã (1928), Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (1931), Liên Đoàn Phật học xã (1933), Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1934), Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội (1934), Hội Phật học Kiêm Tế (1936). Báo chí xuất bản gồm có Pháp âm (1929 - tờ báo Phật giáo Quốc ngữ đầu tiên), Phật hóa Tân Thanh niên (1929), Từ bi âm (1932-1945), Duy tâm Phật học (1935-1943), Bồ đề (1936), Bát nhã âm (1936-1943), Pháp âm Phật học (1937-1938), Tiến hóa (1938-1941), Phật pháp chỉ Niết bàn (1941). Từ bi âm là diễn đàn đầu tiên ghi nhận sự tham gia viết bài của Ni giới (Ni sư Diệu Tịnh, Diệu Ngôn, Diệu Tu, Diệu Minh).
    • Trung Kỳ: Khởi xướng bởi HT. Giác Tiên và cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, thành lập Hội An Nam Phật học (1932) tại chùa Trúc Lâm (Huế), xuất bản tạp chí Viên âm (1933-1945). Hội mở các trường Phật học tại Báo Quốc, Trúc Lâm, Tây Thiên; thành lập Gia đình Phật Hóa Phổ (1940) - tiền thân của Gia đình Phật tử, và Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục. Tại Đà Nẵng, Hội Đà Thành Phật học xuất bản tạp chí Tam bảo (1937-1938). Đáng chú ý, năm 1935 bản nhạc Phật giáo ký âm phương Tây đầu tiên Mừng Phật đản (sau đổi là Trầm Hương Đốt) của Bửu Bác được biểu diễn tại Huế.
    • Bắc Kỳ: Do HT. Thanh Hanh (Tổ Vĩnh Nghiêm) lãnh đạo, thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934), suy tôn HT. Thanh Hanh làm Thiền gia Pháp chủ, xuất bản tuần báo Đuốc tuệ (1935-1945). Hội Bắc Kỳ Cổ sơn môn do HT. Thanh Tường đứng đầu xuất bản tạp chí Tiếng chuông sớm (1935-1936). Bắc Kỳ thực hiện công trình in dập 8 tập Đại Nam Phật điển tùng san (1940-1943) phối hợp cùng Trường Viễn Đông Bác Cổ và xuất bản bộ Hải triều âm văn khố.
  • Tác giả khắc họa chân dung các vị Tổ sư tiêu biểu của phong trào: HT. Khánh Hòa (1877-1947, Bến Tre), HT. Giác Tiên (1879-1936, Thừa Thiên), HT. Thanh Hanh (1840-1936, Hà Đông), cùng Quốc sư Phước Huệ (1869-1945, Bình Định) và các cư sĩ như Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, Lê Đình Thám, Mai Thọ Truyền.

Chương 2: Phật học trên báo chí Phật giáo Việt Nam trước 1945

Chương này đi sâu phân tích hệ thống tư tưởng Phật học được trình bày và thảo luận trên báo chí qua ba nội dung chính:

  1. Thế giới quan Phật giáo: Báo chí Phật giáo giai đoạn này tập trung giải thích và tranh luận học thuật về 4 vấn đề nhận thức luận và bản thể luận:
    • Vấn đề Thượng đế sáng tạo muôn vật: Khẳng định đạo Phật không thừa nhận đấng sáng thế toàn năng; vạn vật hình thành do luật Duyên khởi, nghiệp lực và các quy luật tự nhiên, bác bỏ thần quyền mê tín.
    • Vấn đề linh hồn bất tử: Bác bỏ quan niệm linh hồn bất biến, kiến giải sự tiếp nối của dòng tâm thức và nghiệp báo qua quy luật Vô thường và Vô ngã.
    • Vấn đề cảnh giới cực lạc và địa ngục: Phản ánh các cuộc tranh luận sôi nổi giữa tạp chí Tiến hóa (nghiêng về duy lý, giải thích cực lạc và địa ngục là trạng thái tâm lý hiện hữu) và các báo Từ bi âm, Viên âm (khẳng định niềm tin Tịnh Độ truyền thống kết hợp lý giải "tâm tịnh tức Phật độ tịnh").
    • Vấn đề tồn tại của ngoại giới: Luận giải các phạm trù của Duy thức học, bản chất chân như của thực tại khách quan và vai trò nhận thức của tâm thức.
  2. Tư tưởng đạo đức Phật giáo: Tập trung vào giáo lý Khuyến thiện và quy luật Nhân quả - Nghiệp báo. Báo chí sử dụng giáo lý đạo đức để thức tỉnh lương tâm xã hội, phê phán các thói hư tật xấu (rượu chè, cờ bạc, tham nhũng), vận động tín đồ sống từ bi, hỷ xả, tích cực làm việc thiện, cứu giúp đồng bào nghèo khổ.
  3. Phật giáo với vấn đề dân tộc và đại chúng:
    • Phật giáo với dân tộc: Khẳng định sự đồng hành lịch sử giữa đạo Phật và nền độc lập của dân tộc (nhắc lại các thời kỳ Lý, Trần); cổ vũ tinh thần yêu nước, đưa ra khẩu hiệu "Tu là tìm hạnh phúc cho tha nhân", kêu gọi tăng ni hòa mình vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
    • Phật giáo với đại chúng: Đưa Phật pháp đến với mọi tầng lớp nhân dân bằng chữ Quốc ngữ bình dị, bài trừ các tệ nạn mê tín dị đoan, đòi quyền bình đẳng cho nữ giới và quan tâm đến giáo dục thế hệ thanh thiếu niên.

Chương 3: Văn học trên báo chí Phật giáo Việt Nam trước 1945

Chương 3 khảo sát diện mạo, giá trị nội dung và thi pháp nghệ thuật của bộ phận văn học chữ Quốc ngữ trên báo chí Phật giáo:

  • Tổng quan và dịch thuật kinh điển: Khẳng định dịch kinh Phật là một loại hình dịch thuật văn học đặc biệt. Việc chuyển ngữ kinh sách từ chữ Hán/Pali sang chữ Quốc ngữ (như Quy Nguyên Trực Chỉ, Ưu Bà Tắc Giới, Quán Vô Lượng Thọ, Kim Cương, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm) không chỉ có ý nghĩa hoằng pháp mà còn trực tiếp tôi luyện, làm phong phú vốn từ vựng, ngữ pháp và diễn đạt của văn xuôi tiếng Việt thời kỳ đầu.
  • Giá trị nội dung của thơ văn trên báo chí Phật giáo:
    • Giáo dục tư tưởng đạo đức Phật giáo: Các bài thơ, văn xuôi, truyện ngắn đều hướng tới việc khuyên răn con người bỏ ác làm lành, giữ gìn giới luật, sống an vui và tỉnh thức.
    • Thể hiện tinh thần dân tộc: Thơ văn bộc lộ lòng yêu nước tha thiết, tinh thần tự hào về lịch sử dân tộc, phản ánh nỗi đau trước cảnh nước mất nhà tan và sự cơ cực của quần chúng lao động.
    • Thể hiện tinh thần nhân đạo: Đề cao lòng từ bi vô lượng, sự cảm thông sâu sắc với những số phận nghèo khổ, người phụ nữ và trẻ em trong xã hội cũ.
  • Giá trị nghệ thuật của thơ và văn xuôi:
    • Nghệ thuật thơ ca: Sử dụng kết hợp các thể thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát, Đường luật) và các thể thơ mới tự do. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng giàu tính triết lý, dễ thuộc, dễ truyền tải giáo lý vào đời sống.
    • Nghệ thuật văn xuôi: Thể hiện qua các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết luân lý, tiểu phẩm đạo lý, bút ký và kịch đối thoại. Tác giả phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật với những xung đột nội tâm về đạo đức; kết cấu tự sự mạch lạc; ngôn ngữ kể chuyện và đối thoại tự nhiên, khẩu ngữ hóa, gần gũi với đời sống đại chúng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:

  1. Đóng góp về mặt tư liệu và lịch sử báo chí:
    • Phục dựng một cách hệ thống, tường minh diện mạo toàn bộ 15 ấn phẩm báo chí Phật giáo Việt Nam xuất bản trước năm 1945 tại cả ba miền Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
    • Hiệu đính và xác định chính xác các thông tin thư mục học mà các công trình trước đây ghi nhầm: khẳng định năm đình bản chính xác của Từ bi âm (1945), Viên âm (1945), Đuốc tuệ (1945), Tam bảo (1938), Tiến hóa (1941); đính chính tên chủ nhiệm tạp chí Tiến hóa là Đỗ Kiết Triệu và tạp chí Duy tâm Phật học là Nguyễn Văn Ân.
  2. Đóng góp về nghiên cứu tư tưởng và văn học sử:
    • Luận giải có hệ thống các vấn đề triết học Phật học (thế giới quan, đạo đức học, tinh thần nhập thế dân tộc) trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây đầu thế kỷ XX.
    • Khẳng định vị trí của văn học báo chí Phật giáo như một bộ phận cấu thành của nền văn học Việt Nam hiện đại chặng đầu; làm rõ đóng góp của việc dịch kinh và sáng tác thơ văn Phật giáo đối với sự hoàn thiện của ngôn ngữ văn xuôi chữ Quốc ngữ.
    • Biên soạn 4 phần phụ lục chi tiết cung cấp hình ảnh tư liệu bìa báo, trang thơ văn và bảng danh mục toàn bộ tác phẩm thơ ca, văn xuôi trên báo chí Phật giáo trước 1945.
  3. Đề xuất: Luận án gợi mở việc tiếp tục sưu tầm, bảo tồn và số hóa các tư liệu báo chí Phật giáo quý hiếm đang có nguy cơ hư hại, phục vụ cho công tác nghiên cứu văn hóa, tôn giáo và văn học dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do hoàn cảnh chiến tranh và thời gian xuất bản cách xa, một số số báo đơn lẻ của các tạp chí như Phật hóa Tân Thanh niên, Bồ đề, Phật pháp chỉ Niết bàn bị thất lạc hoặc rách nát tại các kho lưu trữ, gây khó khăn nhất định cho việc tiếp cận trọn vẹn toàn bộ các số đã phát hành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng so sánh diện mạo báo chí và văn học Phật giáo với báo chí của các tổ chức tôn giáo khác cùng thời kỳ (như báo chí Công giáo, Cao Đài).
    • Nghiên cứu sâu hơn về phong cách dịch thuật văn học kinh điển của từng dịch giả tiêu biểu (như Đoàn Trung Còn, Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, Thích Mật Thể).
    • Tiếp tục khảo sát mảng văn học và báo chí Phật giáo Việt Nam giai đoạn sau năm 1945 đến năm 1975.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu tham khảo cho các đối tượng sau:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các ngành Văn học Việt Nam, Lịch sử báo chí, Văn hóa học và Tôn giáo học: Cung cấp tư liệu sơ cấp chuẩn xác, các bảng danh mục thư mục báo chí và tác phẩm văn học trước 1945 đã được hiệu đính.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng: Cung cấp bức tranh về quá trình hiện đại hóa tư tưởng Phật học và sự tiếp biến các trào lưu triết học phương Tây và tư tưởng canh tân Á Đông tại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
  • Phần Phụ lục 3 và Phụ lục 4 (Danh mục thơ và văn xuôi trên báo chí Phật giáo trước 1945) là công cụ tra cứu thư mục trực tiếp phục vụ cho việc nghiên cứu văn học sử giai đoạn 1930-1945.

Câu hỏi thường gặp

1. Tạp chí Phật giáo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên xuất bản tại Việt Nam là tờ nào và ra đời vào thời gian nào? Tạp chí Phật giáo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ là Pháp âm, ra số đầu tiên ngày 31 tháng 3 năm 1929 tại chùa Xoài Hột (Mỹ Tho, Nam Kỳ), do HT. Khánh Hòa kết hợp với các HT. Huệ Quang, Từ Nhẫn, Chơn Huệ và sư Thiện Chiếu sáng lập. Tạp chí ra được 1 số thì đình bản do thiếu kinh phí.

2. Luận án đã hiệu đính những sai sót nào về năm đình bản của các tờ báo Phật giáo trong các công trình nghiên cứu trước đây? Luận án chỉ ra các sai sót trong công trình Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 của Huỳnh Văn Tòng và hiệu đính lại: Từ bi âm đình bản năm 1945 (không phải 1941), Viên âm đình bản năm 1945 (không phải 1936), Đuốc tuệ đình bản năm 1945 (không phải 1939), Tam bảo đình bản năm 1938 (không phải 1939), và Tiến hóa đình bản năm 1941 (không phải 1939).

3. Ba vị Hòa thượng nào được suy tôn là Tổ sư khởi xướng phong trào Chấn hưng Phật giáo ở ba miền? Ba vị Tổ sư tiêu biểu gồm có: HT. Khánh Hòa (Thích Như Trí, 1877-1947) khởi xướng tại Nam Kỳ; HT. Giác Tiên (Nguyễn Duy Quyển, 1879-1936) khởi xướng tại Trung Kỳ; và HT. Thanh Hanh (Nguyễn Thanh Đàm, Tổ Vĩnh Nghiêm, 1840-1936) khởi xướng tại Bắc Kỳ.

4. Nội dung tranh luận thế giới quan nổi bật trên báo chí Phật giáo trước 1945 gồm những vấn đề gì? Báo chí Phật giáo tập trung tranh luận và lý giải 4 vấn đề bản thể luận và nhận thức luận: phản bác thuyết Thượng đế sáng tạo muôn vật theo tinh thần Duyên khởi; phân tích quan niệm vô ngã để bác bỏ thuyết linh hồn bất tử; tranh luận về bản chất của thế giới Tây phương cực lạc và địa ngục (giữa quan điểm duy thực của báo Tiến hóa và quan điểm Tịnh Độ của báo Từ bi âm); và luận giải vấn đề tồn tại của ngoại giới qua Duy thức học.

5. Công trình in dập văn bản Phật giáo Hán Nôm do Hội Phật giáo Bắc Kỳ phối hợp với Trường Viễn Đông Bác Cổ thực hiện có tên là gì? Công trình có tên là Đại Nam Phật điển tùng san, khởi sự từ năm 1940 đến năm 1943, in dập lại được 8 tập tác phẩm Phật giáo Việt Nam bằng chữ Hán và chữ Nôm cổ (Chư kinh nhật tụng, Thụ giới nghi phạm, Thiền uyển kế đăng lục, Pháp hoa đề cương, Bát nhã trực giải, Khóa Hư lục, Trần Triều dật tồn Phật điển lục, Lễ tụng hành trì yếu tập).

Kết luận

Luận án Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo Việt Nam trước năm 1945 của tác giả Nguyễn Thị Thảo là một công trình nghiên cứu hệ thống, nghiêm cẩn về một hiện tượng văn hóa - tư tưởng đặc biệt trong lịch sử dân tộc. Qua việc khảo sát 15 ấn phẩm báo chí và hệ thống tác phẩm thơ văn đương thời, luận án đã làm sáng tỏ sự gắn kết hữu cơ giữa tiến trình chấn hưng tư tưởng Phật học và sự vận động hiện đại hóa của văn học chữ Quốc ngữ chặng đầu thế kỷ XX. Công trình không chỉ hiệu đính nhiều dữ liệu lịch sử báo chí quan trọng mà còn khẳng định những giá trị nhân văn, tinh thần dân tộc và đóng góp nghệ thuật của di sản báo chí Phật giáo trước năm 1945. Đây là tài liệu nghiên cứu có giá trị khoa học thiết thực cho các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lịch sử báo chí và Tôn giáo học.