Tổng quan luận án

Vấn đề phẩm chất nghề nghiệp của người làm báo đặt trong bối cảnh chuyển đổi phương thức truyền thông số và sự phát triển của mạng xã hội là nội dung trọng tâm được luận án tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học tập trung nghiên cứu, với tiêu đề: Phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam hiện nay - tiếp cận từ quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong thập niên gần đây, hoạt động báo chí toàn cầu có nhiều biến động dưới tác động của công nghệ số và sự phát triển của mạng xã hội. Tại các nền báo chí phát triển như Hoa Kỳ, Liên bang Đức, Pháp, Anh, báo chí vận hành cộng sinh với mạng xã hội và chịu sự gia tăng áp lực từ dư luận xã hội trong việc giám sát, phản biện các quyết sách quốc gia. Điển hình như cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2016 cho thấy báo chí chịu sự chi phối từ lợi ích của các nhóm chính trị; báo chí châu Âu bộc lộ sự lúng túng trước các vấn đề Brexit, người nhập cư, khủng hoảng Ukraine và xung đột Trung Đông - Bắc Phi; trong khi báo chí Trung Quốc thể hiện rõ vai trò là công cụ chính trị xung kích của Đảng và Nhà nước.

Tại Việt Nam, sự phát triển nhanh về số lượng cơ quan báo chí, loại hình ấn phẩm, công nghệ làm báo và đội ngũ người làm báo diễn ra đồng thời với những thách thức từ môi trường truyền thông số. Điển hình vào tháng 5 năm 2018, khi Quốc hội khóa XIV chuẩn bị xem xét Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (áp dụng cho Vân Đồn, Phú Quốc, Vân Phong), các luồng ý kiến phản biện xã hội bùng nổ trên mạng xã hội trong khi báo chí chính thống phản ứng chậm do phụ thuộc vào định hướng của cơ quan chủ quản. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu phải đánh giá lại vai trò của báo chí không chỉ là công cụ chính trị - tư tưởng mà còn là thiết chế xã hội kiến tạo, đòi hỏi người làm báo vừa thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền vừa đáp ứng kỹ năng truyền thông hiện đại.

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ về đạo đức báo chí hoặc tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tác giả nhận định chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống và toàn diện để xây dựng khung lý thuyết và mô hình phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam tiếp cận từ quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh truyền thông số và hội nhập quốc tế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề phẩm chất nghề nghiệp nhà báo tiếp cận từ quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó khảo sát, đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của nhà báo Việt Nam hiện nay, phân tích các vấn đề đặt ra và đề xuất mô hình cùng hệ thống giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao phẩm chất nghề nghiệp của đội ngũ người làm báo.

Để thực hiện mục đích trên, luận án triển khai 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, xác định khoảng trống nghiên cứu.
  2. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo.
  3. Xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề phẩm chất nghề nghiệp nhà báo tiếp cận từ quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh.
  4. Khảo sát thực tế về nhận thức, thái độ và hành vi của nhà báo Việt Nam theo khung lý thuyết đã xác lập; chỉ ra các mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
  5. Đề xuất mô hình phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh môi trường truyền thông mới.
  6. Đề xuất các điều kiện, giải pháp và khuyến nghị khoa học bảo đảm hiện thực hóa mô hình.
  7. Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam.

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác lập 4 giả thuyết nghiên cứu chính:

  • Thứ nhất: Trong bối cảnh môi trường truyền thông và báo chí đương đại thay đổi, vấn đề phẩm chất nghề nghiệp nhà báo trên thế giới và ở Việt Nam được nhìn nhận như thế nào và việc nhìn nhận này có ý nghĩa gì đối với thực tiễn hành nghề của nhà báo đương đại?
  • Thứ hai: Trong các trước tác của mình, Hồ Chí Minh đã nêu ra những quan điểm cơ bản nào làm nền tảng tư tưởng về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo, và những quan điểm này có ý nghĩa như thế nào đối với nhận thức và ứng xử của nhà báo Việt Nam hiện nay?
  • Thứ ba: Trên cơ sở nền tảng các quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo, liệu có thể mô hình hóa phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam và hoàn thiện mô hình đó thông qua thực tiễn môi trường truyền thông mới và hội nhập quốc tế?
  • Thứ tư: Việc hiện thực hóa mô hình phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam đương đại đang đặt ra những yêu cầu, điều kiện và phương án giải quyết nào nhằm tối ưu hóa năng lực hoạt động của nhà báo?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phẩm chất nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam đương đại tiếp cận từ quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu các quan điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất nhà báo; khảo sát thực trạng phẩm chất nhà báo Việt Nam và đề xuất mô hình phẩm chất nghề nghiệp cùng điều kiện thực hiện.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 2001 đến nay (mốc Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh, ban hành Chỉ thị 23-CT/TW năm 2003, cùng các Chỉ thị 06-CT/TW và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh).
  • Đối tượng khảo sát:
    • Nhóm 1: Các tác phẩm của Hồ Chí Minh, trọng tâm là bộ Hồ Chí Minh: Toàn tập (15 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2011), các sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu và bài báo khoa học liên quan được công bố trong 10 năm gần đây.
    • Nhóm 2: Nhận thức, thái độ và hành vi của đội ngũ nhà báo Việt Nam tại các cơ quan báo chí.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:

Nhóm các công trình nghiên cứu về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo (Quốc tế và lý luận chung)

  • Lịch sử hình thành các quy tắc nghề nghiệp: Fred Brown (1987) với Journalism Ethics: A casebook of professional conduct for news media tìm hiểu lịch sử đạo đức báo chí; David E. Boeyink (1994) khảo sát hiệu quả thực hiện quy tắc đạo đức tại 3 phòng tin tức; Cleveland Wilhoit (1990s) với American journalist in the 1990s và David Weaver (thế kỷ XXI) với The American journalist in the 21st century phân tích giá trị chuyên môn, đạo đức qua khảo sát quy mô lớn (410 đến 1.500 nhà báo Hoa Kỳ); Gilles Feyel (2003) nghiên cứu nguồn gốc đạo đức báo chí Pháp thế kỷ XVII; G. V. Lazutina (2000, 2004) phân tích lịch sử, nguyên tắc đạo đức và cơ chế tự điều tiết của nhà báo; Jacob Metcalf (2014) so sánh quy tắc đạo đức trong máy tính, y học và báo chí; Dương Xuân Sơn (2012) trong giáo trình lý luận báo chí đã hệ thống hóa sự ra đời của các quy tắc đạo đức từ thế kỷ XIX.
  • Vai trò của phẩm chất nghề nghiệp: Pierre Sormany (1990) trong Le métier de journaliste phân tích vai trò thẩm định chất lượng thông tin của nhà báo trước sự bùng nổ internet; Eric Fikhtelius (2002) với Mười bí quyết về kỹ năng nghề báo nêu 10 kỹ năng gắn liền với phẩm hạnh nghề nghiệp; Sostak (2004) khẳng định đạo đức và sáng tạo là tính vững vàng nghề nghiệp; V. Vôrôsilốp (2004) coi quy tắc đạo đức là cơ chế tự điều tiết xã hội; Stephen J. A. Ward (2010) bàn về đạo đức trong thời kỳ mới; Martine D'Amours (2014) khảo sát tính năng động nghề nghiệp của lao động tự do; Kettle Academy (2016) cảnh báo hậu quả của thông tin sai lệch; ở trong nước có Hà Minh Đức (2006), Phùng Hữu Phú (2003), Hoàng Đình Cúc (2012), Nguyễn Quang Vinh (2016), Nguyễn Văn Dững (2017) khẳng định bản lĩnh chính trị và đạo đức là nền tảng cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội.
  • Tiêu chuẩn và mối quan hệ nghề nghiệp: Các bộ quy tắc nghề nghiệp của Hiệp hội Nhà báo chuyên nghiệp Hoa Kỳ (SPJ), Tổ chức quốc tế các nhà báo (OIJ), The New York Times, các đạo luật và quy chuẩn báo chí tại Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Ba Lan, Liên bang Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Australia; các nghiên cứu của James Sachaffer và cộng sự (1975), Laitila (1995), Howard Finberg, David Brewer, Janet Mulroney Clark (2016), Marc-François Bernier (2004), The Missouri Group (2004), Peter Eng và Jeff Hodson (2007), Benoit Grevisse (2016), E. Prôkhôrốp (2004), Howard Owens (2008), Gil Thelen, Éric Rohde (2013), Nguyễn Văn Dững (2013) đề xuất mô hình nhân cách người làm báo gồm các nhóm phẩm chất chính trị, tri thức tổng hợp, kỹ năng tác nghiệp, trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp.

Nhóm các công trình nghiên cứu về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam

  • Văn bản quy chuẩn: Quy ước tiêu chuẩn phẩm chất nghề nghiệp (Đại hội VI Hội Nhà báo Việt Nam, 1994); 9 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp (Đại hội VIII, 2007); 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam (2016); Luật Báo chí năm 2016 (có hiệu lực từ 01/01/2017).
  • Nghiên cứu qua các tấm gương: Nghiên cứu về tấm gương Hồ Chí Minh của Hữu Thọ (2008), Vũ Thị Kim Yến (2015), Hà Huy Phượng (2015), Nguyễn Xuân Lương (2017); nghiên cứu về các nhà báo tiêu biểu như Phan Quang (Nguyễn Hoàng Sáu, 2011), Trường Chinh (Tạ Ngọc Tấn, 2017), Hồng Vinh (Trần Bá Dung, 2017), Đỗ Đức Dục (Kiều Mai Sơn, 2017), Tô Hoài (Nguyễn Xuân Lương, 2017), Huỳnh Văn Tiếng, Sơn Nam, Phạm Dân (Phạm Bá Nhiễu, 2017).
  • Nghiên cứu theo tiêu chí và lĩnh vực tác nghiệp: Hoàng Đình Cúc (2013, 2015) xây dựng hệ chuẩn mực đạo đức nghề báo; Phạm Hải Chung và Bùi Thu Hương (2016) nghiên cứu đạo đức người làm truyền thông xã hội; Đỗ Thị Thu Hằng (2015) và Đức Hiền (2015) nghiên cứu phẩm chất nhà báo điều tra; Nguyễn Ngọc Oanh (2014) và Helena Thorfinn nghiên cứu đạo đức nhà báo tác nghiệp về trẻ em; Phạm Ngọc Hòa (2015) nghiên cứu nhà báo viết về chiến tranh; Bùi Thị Vân (2016) nghiên cứu yêu cầu đối với nhà báo đối ngoại; Nguyễn Thành Lợi nghiên cứu tác nghiệp trong môi trường truyền thông đa phương tiện; Lê Thanh Bình nghiên cứu tiêu chuẩn nhà báo quốc tế.

Nhóm các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo và giải pháp nâng cao

  • Tạ Ngọc Tấn (1995, 2001, 2002, 2008) hệ thống hóa quan điểm Hồ Chí Minh về báo chí, vai trò người làm báo và phương pháp học tập tư tưởng Hồ Chí Minh thiết thực; Nguyễn Văn Dững (2001) khẳng định đạo đức cách mạng là nền tảng phẩm chất nhà báo; Văn Giá (2002), Dương Xuân Sơn (2008), Phong Linh (2008), Nguyễn Đức Hạnh (2010), Hoàng Anh Tuấn (2014) phân tích các chuẩn mực viết cho ai, viết để làm gì, viết như thế nào, chống thói ba hoa, vụ lợi cá nhân; Nguyễn Thị Trường Giang (2010, 2011) nghiên cứu thực trạng và giải pháp đạo đức nghề báo trong luận án tiến sĩ; Hồ Quang Lợi (2017) đề xuất các giải pháp bồi dưỡng phẩm chất và năng lực nhà báo trong môi trường truyền thông số.

Khoảng trống nghiên cứu

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận từng khía cạnh riêng biệt như đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tác nghiệp chuyên biệt, hoặc trích lược các bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí. Chưa có công trình khoa học nào xây dựng một khung lý thuyết chỉnh thể, khảo sát toàn diện thực trạng bằng phương pháp xã hội học và mô hình hóa phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam hiện nay trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên 4 trụ cột lý luận chính:

  1. Lý thuyết báo chí thế giới: Các lý thuyết về chuẩn mực nghề nghiệp, đạo đức báo chí và lý thuyết hệ thống mô phỏng quan hệ báo chí với các thiết chế xã hội.
  2. Quan điểm Mác - Lênin: Các nguyên lý của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V. I. Lênin về tính đảng, tính giai cấp, tính chân thật và vai trò người làm báo cách mạng.
  3. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng (mục tiêu phục vụ nhân dân, nhà báo là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, giữ gìn đạo đức cách mạng) và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về báo chí.
  4. Lý luận báo chí - truyền thông hiện đại: Các công trình giáo trình và chuyên khảo lý luận báo chí truyền thông của Tạ Ngọc Tấn, Nguyễn Văn Dững, Hà Minh Đức, Dương Xuân Sơn, Nguyễn Văn Hà.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, định tính và định lượng:

Phương pháp Quy mô / Đối tượng khảo sát Mục đích thực hiện
Nghiên cứu tài liệu (Lý thuyết) Tác phẩm Hồ Chí Minh: Toàn tập (15 tập), văn bản pháp luật, tài liệu chuyên ngành Xây dựng cơ sở lý luận và khung lý thuyết về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Khảo sát bằng bảng hỏi (Anket) 400 nhà báo tại các cơ quan báo chí trên toàn quốc (chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống - thuận tiện) Thu thập số liệu định lượng về nhận thức, thái độ, hành vi tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp
Phỏng vấn sâu (PVS) 17 cá nhân gồm lãnh đạo Ban Biên tập, phóng viên các ban chuyên môn, cán bộ Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông Thu thập thông tin định tính chuyên sâu về thực trạng quản lý và thực hành đạo đức nghề báo
Thảo luận nhóm 4 cuộc thảo luận tại 2 cơ sở đào tạo (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, ĐH KHXH&NV Hà Nội; 2 lớp/trường, 4 nhóm/lớp) Đánh giá nhận thức và thái độ về phẩm chất nghề nghiệp của sinh viên báo chí (nhà báo tương lai)
Thống kê phân loại Báo cáo, tài liệu xử lý vi phạm của Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) và dữ liệu báo chí Thống kê, phân loại các hành vi sai phạm về phẩm chất nghề nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu
Các phương pháp bổ trợ Quan sát, phương pháp hệ thống, điền dã thực địa, nghiên cứu lịch sử, so sánh, phân tích - tổng hợp Kiểm chứng chéo tính xác thực của thông tin, so sánh chuẩn mực quốc tế và trong nước

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn tư liệu văn bản: Bộ Hồ Chí Minh: Toàn tập (15 tập, Nxb Chính trị quốc gia, 2011); các văn kiện Đại hội Đảng, Chỉ thị 23-CT/TW, Chỉ thị 06-CT/TW, Chỉ thị 03-CT/TW; Luật Báo chí 2016; 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam (2016).
  • Dữ liệu thực nghiệm: 400 phiếu khảo sát anket; 17 biên bản phỏng vấn sâu; biên bản 4 cuộc thảo luận nhóm; hồ sơ vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí từ cơ quan quản lý nhà nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành 3 nhóm chủ đề: nhóm nghiên cứu lịch sử, vai trò, tiêu chuẩn phẩm chất nghề nghiệp nhà báo; nhóm nghiên cứu phẩm chất nhà báo Việt Nam qua văn bản pháp quy, các tấm gương và các lĩnh vực tác nghiệp đặc thù; nhóm nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về người làm báo và các giải pháp rèn luyện đạo đức. Tác giả chỉ ra các điểm kế thừa về mặt lý luận, phương pháp nghiên cứu xã hội học báo chí, đồng thời xác định khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở triển khai luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận - thực tiễn vấn đề xây dựng phẩm chất nghề nghiệp nhà báo theo quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương này làm rõ các khái niệm công cụ: phẩm chất, nghề nghiệp, báo chí, nhà báo, phẩm chất nghề nghiệp và phẩm chất nghề nghiệp nhà báo. Tác giả phân tích cơ sở chính trị và pháp lý qua quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và các văn kiện của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí. Đồng thời, chương 2 đánh giá cơ sở thực tiễn khách quan tác động đến hoạt động báo chí trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông tin, phân tích thực trạng đội ngũ nhà báo và diện mạo báo chí Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chương 3: Những quan điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam

Tác giả phân tích và khái quát hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh theo hai nhóm nội dung lớn:

  1. Quan điểm về vai trò của nhà báo cách mạng:
    • Nhà báo là chiến sĩ xung kích, đi tiên phong trên mặt trận tư tưởng của Đảng.
    • Nhà báo là nhà văn hóa vì nhân dân, phục vụ nhân dân.
    • Nhà báo là chiến sĩ tiên phong trong nêu gương người tốt, việc tốt và đấu tranh chống tiêu cực, chống các loại kẻ thù.
  2. Quan điểm về cấu trúc phẩm chất nghề nghiệp nhà báo cách mạng:
    • Phẩm chất chính trị, tư tưởng: Bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng, giữ vững tính đảng và tính chiến đấu.
    • Phẩm chất đạo đức, lối sống: Đạo đức cách mạng trong sáng, chí công vô tư, khiêm tốn, trung thực, chống bệnh cá nhân chủ nghĩa và vụ lợi.
    • Phẩm chất chuyên môn, nghiệp vụ, tri thức và văn hóa vốn sống: Khả năng nắm bắt thực tiễn, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, dễ hiểu, trả lời rõ các câu hỏi viết cho ai, viết để làm gì, viết cái gì và viết như thế nào.

Chương 4: Thực trạng phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam hiện nay

Chương 4 trình bày kết quả xử lý dữ liệu từ cuộc khảo sát 400 bảng hỏi, 17 phỏng vấn sâu và thống kê sai phạm:

  • Phẩm chất chính trị: Đa số nhà báo nhận thức rõ vai trò phụng sự Tổ quốc và nhân dân, kiên định đường lối của Đảng; tuy nhiên tồn tại sự chênh lệch giữa tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp về mức độ hiểu biết lý luận chính trị; có biểu hiện dao động tư tưởng trước các luồng thông tin mạng xã hội.
  • Phẩm chất đạo đức: Phân tích mức độ yêu thích nghề nghiệp, tương quan nhận định giữa nam và nữ đối với hiện tượng "đăng tin bài giật gân câu khách", các biểu hiện vi phạm đạo đức như tống tiền doanh nghiệp, thông tin sai sự thật, đạo văn.
  • Phẩm chất chuyên môn, nghiệp vụ và vốn sống: Đánh giá trình độ chuyên môn, mức độ đáp ứng yêu cầu làm báo đa phương tiện; phân tích các số liệu về ảnh hưởng tiêu cực từ tham vọng cá nhân và các mối quan hệ xã hội phức tạp tác động đến tính khách quan của ngòi bút.
  • Nguyên nhân thực trạng: Phân tích các nguyên nhân chủ quan (ý thức tự rèn luyện, sự suy thoái đạo đức cá nhân) và khách quan (cơ chế quản lý tòa soạn, áp lực kinh tế báo chí, sự phát triển chưa hoàn thiện của hành lang pháp lý).

Chương 5: Hoàn thiện mô hình phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam hiện nay theo quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh

  • Quan điểm tiếp cận: Xác định các nguyên tắc xây dựng mô hình dựa trên chủ trương, nghị quyết mới của Đảng và Nhà nước về báo chí, kết hợp giữa truyền thống cách mạng và yêu cầu truyền thông hiện đại.
  • Đề xuất mô hình: Mô hình phẩm chất nghề nghiệp cấu thành từ 3 trụ cột: Phẩm chất chính trị - tư tưởng; Phẩm chất đạo đức - lối sống; Phẩm chất chuyên môn - nghiệp vụ và tri thức văn hóa. Xác lập hệ tiêu chí cụ thể và các điều kiện bảo đảm thực hiện mô hình.
  • Khuyến nghị thực hiện: Luận án đề xuất hệ thống khuyến nghị phân theo 6 nhóm chủ thể:
    1. Cơ quan Đảng, Nhà nước và cơ quan quản lý báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương).
    2. Hội Nhà báo Việt Nam (nâng cao giám sát thực thi 10 điều quy định đạo đức).
    3. Các cơ quan báo chí (quy chế tòa soạn, nâng cao đời sống nhà báo).
    4. Các cơ sở đào tạo báo chí (cập nhật chương trình đào tạo kết hợp lý luận chính trị và kỹ năng số).
    5. Bản thân người làm báo (tự giác tu dưỡng, rèn luyện).
    6. Công luận và độc giả (phát huy vai trò giám sát của xã hội).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án hệ thống hóa các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí và người làm báo, xây dựng thành khung lý thuyết chuyên biệt về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo.
  • Bổ sung cơ sở lý luận báo chí học Việt Nam về nhân cách và chuẩn mực nghề nghiệp của người làm báo trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về nhận thức, thái độ và hành vi của đội ngũ nhà báo Việt Nam thông qua khảo sát định lượng (400 phiếu) và định tính (17 phỏng vấn sâu).
  • Đề xuất mô hình chuẩn về phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh cùng hệ tiêu chí cụ thể, làm căn cứ định hướng cho công tác quản lý báo chí, rèn luyện tại tòa soạn và đổi mới chương trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế quản lý báo chí, nâng cao hiệu lực kiểm tra, xử lý vi phạm của Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan chức năng.
  • Xây dựng quy chế làm việc, bảo đảm điều kiện tác nghiệp và chính sách đãi ngộ hợp lý nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của áp lực kinh tế đối với nhà báo.
  • Đổi mới nội dung giảng dạy đạo đức và kỹ năng làm báo tại các cơ sở đào tạo báo chí - truyền thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi thời gian từ năm 2001 đến nay và tiếp cận trọng tâm trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh; phương pháp chọn mẫu thuận tiện - ngẫu nhiên hệ thống tại một số dòng báo chí tiêu biểu chưa bao quát tuyệt đối mọi loại hình cơ quan báo chí địa phương đặc thù.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu chuyên sâu về phẩm chất nghề nghiệp của các nhóm nhà báo chuyên biệt (nhà báo điều tra, nhà báo dữ liệu, nhà báo tác nghiệp trên mạng xã hội).
    • Nghiên cứu so sánh chuẩn mực phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam với các chuẩn mực báo chí quốc tế trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và hoạt động sau:

  • Cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí và Hội Nhà báo Việt Nam: Sử dụng cơ sở dữ liệu thực trạng và các khuyến nghị để hoàn thiện chính sách, quy chế quản lý và giám sát đạo đức nghề nghiệp.
  • Các cơ quan báo chí và ban biên tập: Làm căn cứ xây dựng quy ước đạo đức tòa soạn, quy chế tác nghiệp và tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, phóng viên.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu báo chí - truyền thông: Làm tài liệu giảng dạy, học tập cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Báo chí, Truyền thông tại các trường đại học.
  • Đội ngũ người làm báo: Làm tài liệu tham khảo để tự soi chiếu, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và kỹ năng tác nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Bối cảnh thực tiễn nào về môi trường truyền thông được tác giả nhấn mạnh khi đặt vấn đề nghiên cứu?

Tác giả phân tích sự biến đổi của truyền thông quốc tế (bầu cử Tổng thống Mỹ 2016, khủng hoảng Brexit và người nhập cư ở châu Âu) và thực tiễn Việt Nam vào tháng 5 năm 2018 xung quanh dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, khi mạng xã hội trở thành diễn đàn phản biện xã hội chính trong khi báo chí chính thống phản ứng chậm.

2. Khung mẫu khảo sát thực tế của luận án được tiến hành với quy mô và phương pháp nào?

Luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống - thuận tiện, khảo sát định lượng bằng bảng hỏi đối với 400 nhà báo trên toàn quốc, phỏng vấn sâu 17 nhà báo và cán bộ quản lý (từ Ban Biên tập đến Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông), cùng 4 cuộc thảo luận nhóm tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền và Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội.

3. Cấu trúc phẩm chất nghề nghiệp nhà báo theo tư tưởng Hồ Chí Minh gồm những trụ cột nào?

Mô hình gồm 3 nhóm phẩm chất:

  1. Phẩm chất chính trị, tư tưởng (bản lĩnh chính trị, tính đảng, tính chiến đấu).
  2. Phẩm chất đạo đức, lối sống (trung thực, chí công vô tư, phục vụ nhân dân, chống vụ lợi).
  3. Phẩm chất chuyên môn, nghiệp vụ, tri thức và văn hóa vốn sống (nắm vững thực tiễn, kỹ năng làm báo, ngôn ngữ trong sáng).

4. Luận án giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu trong giai đoạn nào và vì sao?

Luận án tập trung từ năm 2001 đến nay. Đây là giai đoạn Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra định nghĩa đầy đủ về tư tưởng Hồ Chí Minh, ban hành Chỉ thị 23-CT/TW (năm 2003) và các Chỉ thị 06-CT/TW, 03-CT/TW về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn liền với giai đoạn báo chí hoạt động trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Phẩm chất nghề nghiệp nhà báo Việt Nam hiện nay - tiếp cận từ quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực người làm báo cách mạng. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực nghiệm trên 400 nhà báo và 17 chuyên gia quản lý, công trình đã phản ánh thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của đội ngũ người làm báo trong bối cảnh truyền thông số. Từ kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất mô hình phẩm chất nghề nghiệp nhà báo gồm 3 nhóm tiêu chí chính trị, đạo đức và chuyên môn, cùng hệ thống giải pháp phân cấp cho các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, tòa soạn và người làm báo nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nền báo chí hiện đại.