đặt vấn đề gia đình ở một tầm quan trọng trong sự nghiệp xây dựng văn hóa và phát triển về mọi mặt của đất nước. Vấn đề đặt ra là phải sống lành mạnh ở các đơn vị cơ sở, đầu tiên là gia đình, giữ gìn và phát huy những đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam, coi trọng xây dựng gia đình văn hóa và xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội.13] Chính vì lẽ đó, chủ đề về hôn nhân gia đình trong những năm gần đây được đăng tải rất nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là vai trò trung tâm của báo chí khi đưa thông tin về chủ đề này. Báo Phụ nữ Việt Nam được đặc trưng bởi dấu hiệu giới, nghĩa là tờ báo này hướng tới giới nữ trong phạm vi quốc gia. Song, chiều cạnh giới cũng cho phép tờ báo Phụ nữ Việt Nam có sự ảnh hưởng rộng không chỉ ở giới nữ.
Báo Phụ nữ Việt Nam có nhiệm vụ cung cấp các thông điệp để khẳng định vai trò của nữ giới trong đời sống xã hội liên quan đến các vấn đề cơ bản như: Các quan hệ xã hội trong nữ quyền, vai trò của phụ nữ trong cấu trúc xã hội và có một nội dung cơ bản là vai trò của phụ nữ đối với gia đình. Chủ đề gia đình trở thành mối quan tâm luôn được những người làm báo Phụ nữ Việt Nam coi trọng, trong đó chuyên mục Thư tâm sự là một biểu hiện cụ thể. Tác giả nhận thức rằng, ngay cả trong trường hợp thư gửi đến tòa soạn được chính những người trong tòa soạn viết ra thì trong chừng mực nào đó nó 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vẫn phản ánh tình trạng thực tế của gia đình Việt Nam hiện nay. Như vậy, những bức thư ấy cũng xuất phát từ thực tế đời sống.
Báo chí đã phản ánh, đưa tin về tình trạng gia đình Việt Nam một cách phong phú, đa chiều. Tuy nhiên, vấn đề gia đình cần được tiếp cận và nghiên cứu một cách khoa học, nhằm giúp các nhà truyền thông nhìn nhận, đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu trong công tác truyền thông về vấn đề gia đình, đồng thời giúp công chúng có cái nhìn sâu sắc hơn, rõ nét hơn về nội dung thông điệp gia đình trên báo chí, bởi lẽ công chúng đều tiếp nhận thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng và chịu ảnh hưởng của các thông điệp đến việc hình thành nhận thức, thái độ, hành vi của họ. Trong lịch sử nghiên cứu truyền thông, đối với bất cứ mô hình truyền thông nào (Lasswell, Claude Shannon, Weaver, David Berlo hay Charles Osgoog…) thì “thông điệp” là một yếu tố quan trọng. Nguồn tin có thể lựa chọn các thông tin khác nhau để đạt được những thông điệp mà nó mong muốn.
Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu của Xã hội học truyền thông đại chúng, theo sơ đồ của Judith Lazar [39], nội dung nghiên cứu về thông điệp là một trong những nội dung quan trọng. Hơn nữa, nhiệm vụ của phương pháp phân tích thông điệp báo chí là cần thể hiện quan hệ của thông điệp với thực tế ngoài thông điệp đã sản sinh ra thông điệp [30]. Luận văn với đề tài “Thông điệp về gia đình qua chuyên mục Thư tâm sự trên báo Phụ nữ Việt Nam cũng tập trung vào hướng nghiên cứu này. Qua đó, nghiên cứu mong muốn phản ánh tình trạng gia đình được đăng tải qua chuyên mục Thư tâm sự trên báo Phụ nữ Việt Nam trong thời gian mà bản luận văn này xác định để phân tích, từ đó mong muốn đưa ra các đề xuất để chuyên mục Thư tâm sự cung cấp thông điệp phản ánh chân thực về tình trạng gia đình, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng gia đình thành một tổ ấm để ấp ủ và nuôi dưỡng những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người công dân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lịch sử nghiên cứu đề tài 2. Lịch sử nghiên cứu ngoài nước Thuật ngữ truyền thông đại chúng lần đầu tiên được dùng trong Lời nói đầu của Hiến chương Liên hiệp quốc về Văn hóa Khoa học và Giáo dục (UNESCO), năm 1946. Sau đó, thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng trong cả đời sống thường nhật và trong khoa học.
Ngày nay truyền thông đại chúng đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như: báo chí học, xã hội học, tâm lý học, lịch sử học… Dưới góc độ xã hội học, truyền thông đại chúng được nghiên cứu như một quá trình xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng được khảo sát và phân tích như một thiết chế xã hội. [27] Lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng trải qua bốn giai đoạn: Ở giai đoạn đầu, các nhà Xã hội học ở thời kỳ này cho rằng những thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng được „chích” vào công chúng như chích một mũi thuốc, đây được gọi là mô hình “mũi kim tiêm” trong truyền thông đại chúng. Điều này dẫn tới hậu quả là hình thành nên một thứ “xã hội đại chúng” trong đó các cá nhân sống rời rạc nhau, không còn mối quan hệ thân thích, đáng tin cậy của cộng đồng cũ nữa. Và vì thế, chỗ dựa mới nhất của họ là các phương tiện truyền thông đại chúng.
Và chính xã hội đại chúng đã sản sinh ra những cá nhân không còn khả năng đề kháng trước sức thuyết phục của truyền thông đại chúng. Giai đoạn phát triển thứ hai của quá trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng là từ năm 1940 tới đầu những năm 1960 của thế kỷ 20. Nếu như giai đoạn trước, người ta nói đến truyền thông đại chúng như một mũi “chích” vào công chúng hay có tác động trực tiếp, thì giai đoạn này nhà nghiên cứu đã bắt đầu nói tới những tác động gián tiếp, thông qua nhiều bước trung gian. Ngoài ra, những quan điểm đánh giá bi quan về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng ở giai đoạn này cũng đã hạn chế nhiều.
Khi đi phân tích ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, các nhà xã hội học như: Lazarsfed, Bernard Berelson và Hazel Gaude, Robert Merton… đã chú ý nhấn mạnh đến vai trò của các nhóm xã hội (bạn bè, gia đình, hàng xóm,…) hay được gọi 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là “opinion leaders” với ý nghĩa rằng: các thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng thường được lọc qua những kênh đó rồi mới đi tới cá nhân. Ở giai đoạn ba, từ đầu những năm 1960 đến cuối thế kỷ 20, ngoài việc nghiên cứu công chúng và tác động của truyền thông đại chúng, các nhà chuyên môn còn nghiên cứu về nội dung các thông điệp của truyền thông đại chúng, về quá trình truyền thông đại chúng, quá trình sản xuất các phương tiện truyền thông, nghiên cứu về đặc điểm của các nhà truyền thông và hoạt động của họ. Tiêu biểu có trường phái “Cultural studies” và lý thuyết không gian công cộng của Jurgen Habermans. Trong giai đoạn này, một số nhà nghiên cứu đã hướng sự quan tâm vào nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng qua từng tác động riêng rẽ của nó.
Một trong những chỉ báo quan trọng cho thấy hiệu quả của truyền thông đại chúng mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra đó là việc công chúng nhớ được nội dung thông điệp. Giai đoạn bốn, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã đem đến cho truyền thông đại chúng những khái niệm mới “truyền thông đa phương tiện” với việc ra đời loại hình truyền thông mới là báo điện tử, tích hợp trong nó đầy đủ những kỹ thuật của các phương tiện truyền thông đại chúng trước đây. Và chính giai đoạn này cũng chứng minh tính đa chiều trong tương tác giữa truyền thông đại chúng và công chúng. Trong công trình “Viết phỏng theo quyển Lacsience de la com – munication của Judith Lajan, Que sais, je, Paris 1992”, tác giả đã chỉ rõ trong khoảng những năm 1930-1950 nổi lên bốn nhà nghiên cứu, ngày nay được xem là những vị sáng lập ra truyền thông giao tiếp: Kaz-arsfeld, Lewin, Hovland, Lasswell.
Các học giả này đều hoạt động ở Mỹ. Điều đó cho thấy khoa học truyền thông giao tiếp gắn liền với những biến đổi quan trọng về kinh tế xã hội và nhu cầu thúc đẩy cách mạng khoa học kỹ thuật mà nước Mỹ đã có ảnh hưởng lớn trong hai cuộc đại chiến thế giới.40] Vào giai đoạn sau đó, năm 1962, trong công trình Tinh thần thời đại, Edgar Morin đã coi văn hóa đại chúng như một phạm trù xã hội học và nhận định rằng nền văn hóa này tạo nên một hệ thống đặc biệt ở chỗ, nó được sản sinh ra theo những 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuẩn mực của quy trình sản xuất công nghiệp và được các media phổ biến đến những đám dân cư khổng lồ. Edgar Morin cũng đã có công ở việc xác định các thời kỳ trong lịch sử hiện đại của văn hóa đại chúng. Trong khoảng thập niên 70 - 80 “Nghiên cứu tác động của truyền thông đối với xã hội không chỉ bó hẹp trong những nghiên cứu thực nghiệm mà còn xuất hiện nghiên cứu phê phán, nghiên cứu diễn giải”.
Các học giả quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng đối với tri thức… cũng như ảnh hưởng của bạo lực và tình dục trên truyền thông tới công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Các nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng rõ nét của truyền thông dẫn đến bệnh nghiền ti vi. Điều đó có thể dẫn đến sự “tha hóa” về niềm tin hoặc thói quen văn hóa từ các thông điệp xuất hiện trên truyền hình.39-52] Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước đến thập niên đầu của thế kỷ 21, giới nghiên cứu tiến hành nhiều nghiên cứu lịch đại nhất về mạng internet nói chung và tin tức trên internet nói riêng. Một nghiên cứu lớn của Viện Báo chí và con người PEW (Mỹ) tiến hành dự án nghiên cứu Internet và cuộc sống người Mỹ đã đưa ra những báo cáo về công chúng Internet ở Mỹ, chỉ ra khả năng tiếp cận, sử dụng và mức độ hài lòng của họ đối với tin tức trên mạng Internet.
Nghiên cứu mới nhất (2006) của PEW chỉ ra những đặc điểm sau: Lượng người sử dụng mạng Internet liên tục tăng với tốc độ đáng ngạc nhiên. Tốc độ phát triển của việc sử dụng thông tin trên mạng Internet tỉ lệ thuận với số người dân có đường chuyền băng thông rộng.