Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA THÔNG TIN PHỤC VỤ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI 1. Vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của thông tin phục v ụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 1. Khái niệm về dân tộc: Cho đến nay, khái niệm dân tộc còn có những ý kiến khác nhau. Điều đó, một phần là do vấn đề dân tộc được xem xét từ nhi ều quan đi ểm, l ập trường và giác độ khác nhau; phần khác là do hiện thực phong phú, ph ức tạp của các loại hình dân tộc đang tồn tại ở các quốc gia, khu vực trên thế giới.
Sự phong phú, phức tạp đó làm cho nhiều định nghĩa được nêu ra, cho đến nay, chưa diễn đạt được đầy đủ, trọn vẹn các thu ộc tính c ủa các lo ại hình dân tộc đã xuất hiện trên thế giới. Việc tìm kiếm m ột đ ịnh nghĩa v ề dân tộc đang là đòi hỏi cấp bách của lý luận và thực tiễn, c ần đ ược quan tâm. Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa như sau: “1. Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh th ổ nh ất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) c ủa b ộ phận tộc người.
Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau. Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính t ộc người. Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá, và nhất là ý thức tự giác tộc người”. 10 Cuốn Từ điển tiếng Việt nêu định nghĩa dân tộc như sau: “1.
Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tính cách. Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ng ữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong l ịch s ử t ừ sau b ộ lạc. Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung”. Và định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: “ Dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đông nhất trong một nước có nhiều dân tộc ”.
Giáo trình Triết học Mác – Lênin, do Hội đồng Trung ương chỉ đ ạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ sách khoa học Mác – Lênin, t ư t ưởng Hồ Chí Minh xuất bản, có nói về khái niệm dân tộc như sau: “Khái niệm dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc). Cần phân biệt “dân tộc” theo nghĩa rộng trên đây với “dân tộc” theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng trước đó, kể cả bộ tộc. Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính tr ị. Dân t ộc có th ể t ừ một bộ tộc phát triển lên, song, đa số trường hợp được hình thành trên c ơ sở nhiều bộ tộc và tộc người hợp nhất lại.
Từ hình thức cộng đ ồng tr ước dân tộc phát triển lên dân tộc là một quá trình v ừa có tính liên t ục v ừa là bước nhảy vọt lớn”. 11 Khái quát những nội dung nêu trên có thể nói, dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người. Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo nên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người. Xét đến cùng, nền tảng của sự liên kết mà các yếu tố trên tạo nên là trình đ ộ phát triển kinh tế, bởi vì, tính chất của dân tộc bao giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất.
Hơn thế nữa nhiều người còn nhấn mạnh rằng, dù hiểu theo nghĩa nào thì dân tộc cũng vừa là một cộng đồng tộc người, vừa là m ột cộng đồng chính trị - xã hội. Có thể định nghĩa khái quát: dân t ộc là m ột c ộng đồng chính trị - xã hội - tộc người. Quan niệm này tạo nên một ranh giới rõ rệt để phân biệt khái niệm dân tộc với khái niệm sắc tộc, bởi vì khái ni ệm sắc tộc thường dùng để chỉ các tộc người da màu.4 Quan niệm này cũng cho phép phân biệt khái niệm dân tộc với khái niệm chủng tộc, bởi vì khái niệm chủng tộc thường dùng để chỉ sự khác nhau về cấu tạo tự nhiên của con người. Mối quan hệ giữa cái chung - quốc gia và cái riêng - từng dân t ộc là mối quan hệ nổi bật trong chính sách dân tộc.
Đại hội lần thứ VI của Đảng ta đã khẳng định: “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc ”. Vị trí Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc. Trong su ốt quá trình lịch sử, các dân tộc Việt Nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau trong các 12 cuộc đấu tranh sinh tồn, chống lại thách thức khắc nghiệt của thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, tương trợ giúp nhau cùng đi lên trong s ự nghi ệp dựng nước và giữ nước.
Nhận thức được sức mạnh to lớn của việc đoàn kết các dân tộc ở nước ta, ngay từ khi mới ra đời, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc đã được nhà nước ta đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã đề ra chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước. Cùng với sự phát triển của cách mạng, báo chí nước ta ngày càng khẳng định được vai trò là cầu nối tin cậy giữa Đảng với dân, dân với Đảng. Nước ta có 54 dân tộc anh em, trong đó có tới 53 dân tộc thiểu s ố sống trải đều từ Bắc vào Nam.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi miền núi và dân tộc thiểu số có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì thế dù còn gặp nhiều khó khăn nh ưng trong mọi thời điểm phát triển, Đảng và Nhà nước vẫn tập trung mọi nguồn lực để đầu tư phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc. Chín tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 58 thành lập Bộ Nội vụ, trong đó, Nha Thông tin Tuyên truyền: thu th ập và truy ền bá các tin t ức trong nước; Nha Dân tộc thiểu số: xem xét các vấn đ ề chính tr ị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước, và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam. Chiểu theo Sắc lệnh số 58, ngày 3 tháng 5 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký Nghị định số 359, ngày 9 tháng 9 năm 1946 13 quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu của Nha Dân tộc.
Nghị định cho phép Nha Dân tộc có 6 ban, trong đó có Ban Tuyên truyền. Nghị định nêu rõ: Một ban tuyên truyền có nhiệm vụ củng cố tinh thần đoàn kết và tình thân ái giữa các dân tộc và chống mọi mưu mô chia rẽ. Ban tuyên truyền sẽ liên lạc với Nha Thông tin Tuyên truy ền toàn quốc để thực hiện chương trình tuyên truyền chung trong ph ạm vi dân t ộc thiểu số. Do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện môi trường, hoàn cảnh sống đã dẫn đến đặc điểm sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc, các vùng ở nước ta.
Do vậy, cùng với thành lập Nha Dân tộc thiểu số, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thành lập “Ban tuyên truyền” để thực hiện công tác dân t ộc. Đến nay công tác tuyên truyền luôn được coi trọng như một đặc trưng của công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Phải sát dân, sát c ơ s ở, hi ểu đúng dân thì mới nói cho dân hiểu đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cách mạng xã hội, đó là sự nghiệp của quần chúng.
Vì vậy về cơ bản mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đến với các vùng và đ ồng bào các dân tộc là nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc phát huy được nội lực, phấn đấu vượt qua đói nghèo, vươn lên từng bước hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước. Nhằm phát triển nhanh kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/1989 “Về chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội mi ền núi” đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước. Để th ể chế hoá Ngh ị quyết 22 của Bộ Chính trị, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính ph ủ) đã có Quyết định số 72/QĐ-HĐBT, ngày 13/3/1990 “Về một số chủ trương, 14 chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi” quy đ ịnh rõ nh ững nội dung đổi mới cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất ở miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc đi ểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc. Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và củng cố an ninh, quốc phòng.