Chương 1 TƯ TƯỞNG HO CHÍ MINH VE DOAN KET LUONG GIÁO 1. Cơ sở hình thành tư tưởng của Hồ Chi Minh về đoàn kết lương giáo Theo tác giả Nguyễn Như Ý thì: “Tư tưởng là quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội” [124, tr. “Đoàn kết là kết thành một khối, thống nhất ý chí, không mâu thuẫn, chống đối nhau” [124, tr.TS Nguyễn Đức Lữ: “Khái niệm lương - giáo xuất hiện từ thời nhà Nguyễn. Theo đó, Lương chỉ những người Việt Nam không theo đạo Thiên Chúa.
Như vậy, ta có thể hiểu rằng, tất cả những người không theo Công giáo, những người theo Phật giáo, Đạo giáo. thuộc bên Lương; Người theo Công giáo được gọi là Giáo. Tuy nhiên, khái niệm này có sự phát triển qua các thời kỳ. Sau này, Lương là khái niệm dé chỉ những người không theo tôn giáo; còn Giáo là chỉ những người có tôn giáo.
Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm Lương - Giáo ở nghĩa như trên khi Người nói: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo. Ngày nay, khái niệm Lương - Giáo ít được sử dụng mà thay vào đó là cụm từ những người có tôn giáo, tín ngưỡng và những người không có tôn giáo, tín ngưỡng” [67, tr. Tư tưởng Hồ Chí Minh là đỉnh cao của văn hóa Việt Nam, là kết tinh của những truyền thống tốt dep của văn hóa Việt Nam qua may nghìn nan lịch sử. Tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận của văn hóa, góp phần tạo nên truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc.
Đúng như đã từng có ý kiến nhận xét: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lénin va tinh cam của một người chu gia tộc, tất cả bao bọc trong một dang dấp rất tự nhiên” [32, tr. 12 Tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang tồn tại ở mọi quốc gia. Tuy thịnh, suy từng lúc có khác nhau; vai trò và ảnh hưởng đối với đời sống xã hội không hoàn toàn như nhau nhưng nhìn chung tôn giáo vẫn tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, gắn đạo với đời, tôn giáo với dân tộc dé cho “nude vinh, đạo sáng” luôn là nguyện vọng chân chính, thiết tha của mọi người dân Việt Nam.
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có những quan điểm rất rõ về đoàn kết lương giáo. Vấn đề đặt ra là những quan điểm đó được hình thành như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến những quan điểm đoàn kết lương giáo của Người? Tat nhiên, không thé tìm nguồn gốc tư tưởng, quan điểm đó ở bên ngoài môi trường sống và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo được hình thành trên sự kết hợp sâu sắc giữa những hiểu biết về truyền thống gia đình, xã hội Việt Nam, về tình hình, đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo nước ta và thế giới; chủ nghĩa Mác - Lênin, việc kế thừa những tư tưởng tiễn bộ của nhân loại và sự tổng kết, khái quát thành lý luận thông qua hoạt động thực tiễn. Toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng về đoàn kết lương giáo nói riêng đều thấm nhuan tính nhân văn sâu sắc, một tình yêu bao la đối với con người, trước hết là con người Việt Nam, đó là những người dân lao động trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Những quan điểm về đoàn kết lương giáo của Người xét đến cùng là vì sự giải phóng con người, là xây dựng một xã hội mới để tiến tới một thién đường nơi trần thế. Cơ sở thực tiễn 1. Đặc điểm tin ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Sinh ra và lớn lên trong một đất nước đa tôn giáo nên Hồ Chí Minh có được những tri thức quý báu về các tín ngưỡng, tôn giáo đó. Với tín ngưỡng dân gian của người Việt, Hồ Chí Minh cho rằng: “Việc cúng bái tổ tiên hoàn 13 toàn là một hiện tượng xã hội” [76, tr.
Người luôn căn dặn cán bộ phải luôn chú ý đến những tục lệ của dân trong quá trình vận động xây dựng cuộc sống mới. Người nói: “tránh phạm đến phong tục tập quán, tín ngưỡng của dân” [74, tr. 122] và nên “tìm hiểu phong tục tập quán nghiêm túc chấp hành điều kiêng” [74, tr. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo.
Những ảnh hưởng đó được bắt nguồn từ người cha kính yêu của Người. Những tư tưởng tiến bộ, nhân cách cao thượng của người cha đã để lại những dấu ấn rất sâu đậm trong tâm hồn Người. Những khái niệm cơ bản của Nho giáo như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cần, kiệm, liêm, chính, trung, hiếu. đều được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo; Người đã đưa vào đó những nội dung mới, nâng tầm trên nền khái niệm cũ dé phù hợp với cuộc sống mới, thời đại mới.
Người giải thích: “Ngày xưa trung là trung với Vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi. Ngày nay nước ta là nước dân chủ cộng hòa. Cũng như trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân, ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải làm cho mọi người đều biết thương cha mẹ” [85, tr.
Hồ Chí Minh bên cạnh việc chỉ ra những ưu điểm của Nho giáo, còn chỉ ra những hạn chế của hệ tư tưởng này. Theo Người, tư tưởng đạo đức của Không Tử “chỉ thích hợp với một xã hội bình yên không bao giờ thay đổi”, “Đạo đức của ông hoàn hảo, nhưng nó không thê dung hợp được với các trào lưu tư tưởng hiện đại” và “ông không phải là người cách mạng mà còn là vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho họ (giai cấp thống thi)” [78, tr. Từ đó, Hồ Chí Minh rút ra bài học: “Những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Không Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lénin” [78, tr. 14 Với Đạo giáo, Người cũng thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của mình.
Ở Hồ Chí Minh, chúng ta thấy phảng phat nét ung dung tự tại, thanh thản, nếp sống hiền hòa thanh đạm, những nét này rất gần với tư tưởng của Lão Tử. Trong chuyên đi Pháp, thăm nơi kỷ niệm Napôlêông, Hồ Chí Minh cho rang, trong đời có nhiều người vì không tri túc mà thất bại! Nếu Napôlêông biết gạt bỏ tham muốn quá mức thì chắc nước Pháp không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người hại của. Như vậy, Hồ Chí Minh đã vận dụng tư tưởng của Đạo giáo một cách hài hòa, Người đã tiếp thu cái đúng đắn đã được thực tiễn kiếm nghiệm để góp phần xây dựng nhân cách, lối sống của người dân yêu nước, người cách mạng. Những ảnh hưởng của Phật giáo đến Hồ Chí Minh có từ rất sớm.
Người viết: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình dang, yên vui mà no ấm”, “Đức Phật là đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn. Người phải hy sinh tranh dau dé diệt lũ ác ma” [76, tr. Trong những bài viết của mình, Hồ Chí Minh nhiều lần mượn khái niệm của nhà Phật; chăng hạn, Người viết: “Tôi chắc đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ, cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lời đề nghị trên” [93, tr. Khi tuyên bố với quốc dân, Hồ Chi Minh nói: “Không được báo thù báo oán.
Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ” [83, tr. Với Công giáo, Hồ Chí Minh đã có những am hiểu sâu sắc và nhìn nhận tôn giáo này như một di sản văn hóa nhân loại. Người đã nhìn thấy cái tinh túy nhất của giáo lý Công giáo, nhân mạnh mục đích cao cả của Công giáo là giải phóng con người, vì hạnh phúc của con người.
Người luôn có cách nhìn nhận khách quan và thái độ kính trọng khi nói về Chúa Giêsu: “Gần 20 thế kỷ trước, một vị thánh nhân đã ra doi. Ca đời Người chỉ lo cứu thế độ nhân, hy sinh cho tự do, bình đăng” và “Đức Thiên Chúa đã giáng sinh dé cứu với nhân loại. Đức 15 Thiên Chúa là một tam gương hy sinh triệt dé vì những người bị áp bức, vì những dân tộc bị đè nén, vì hòa bình, vì công lý” [83, tr. 490], “Suốt đời Ngài chỉ hy sinh phan đấu cho tự đo, cho dan chủ” [83, tr.
Tuy nhiên, khi nói về Công giáo Việt Nam, Người cũng không quên nhắc việc các thé lực dé quốc đã lợi dụng tôn giáo này phục vụ cho mục đích chính trị của chúng. Băng những hiểu biết của mình, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Người dân An Nam. không có tôn giáo, theo cách nghĩ của người châu Âu” [76, tr. Có thể nói, đặc điểm nỗi bật của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là tính khoan dung, không kỳ thị.
Truyền thống văn hóa ứng xử của dân tộc Việt Nam mang đậm tư tưởng khoan dung. Truyền thống đó cũng thé hiện rõ trong tư tưởng về tín ngưỡng, tôn giáo. Dù là tôn giáo du nhập hay tôn giáo nội sinh đều tồn tại hòa bình, ở Việt Nam không có chiến tranh tôn giáo. Tuy ở những thời điểm nhất định, những “bat hòa” là không thé tránh khỏi; nhưng nó chủ yếu là do các thé lực thù địch âm mưu chia rẽ vì mục đích chính trị của chúng.
Xét toàn diện thì tôn giáo Việt Nam có sự hòa hợp, cùng ton tại, cùng phát triển. Hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” là một thực tế lịch sử. Đúng như nhà nghiên cứu văn hóa Dao Duy Anh từng khang định: “Ở đời Ly và đời Trần triều đình lại đặt khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Lão), xem thế đủ biết không những Nho học và Phật học thịnh hành, mà Lão giáo cũng không bị bài xích” [1, tr. Như vậy, những yếu tổ trên đã có tác động không nhỏ trong việc hình thành ở Hồ Chí Minh những quan điểm ban đầu về tín ngưỡng, tôn giáo; về những ưu điểm và nhược điểm của tín ngưỡng, tôn giáo dé từ đó có thé phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm nhằm phát huy tốt nhất sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân trong đó có đoàn kết tôn giáo.