chương 1 gồm 3 tiết, chương 2 gồm 3 tiết). 9 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO 1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo Đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong toàn bộ tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, nó được hình thành trên việc Hồ Chí Minh học tập tiếp thu những lý luận, triết lí, các giáo lý và sự tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin; qua quá trình hoạt động thực tiễn của mình. Trong luận văn này, tác giả chia cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo thành các nội dung: Truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, chủ nghĩa Mác - Lênin, các vấn đề tôn giáo sinh thời Hồ Chí Minh, sự tiếp thu của bản thân Hồ Chí Minh.
Truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại Bất cứ một tư tưởng nào của Hồ Chí Minh đều xuất phát từ những truyền thống quý báu của dân tộc. Đó là lòng yêu nước mà sau này trở thành chủ nghĩa yêu nước; là tinh thần đoàn kết dân tộc, tương thân tương ái. Hồ Chí Minh sinh ra trong thời kì mà nền văn hóa Việt Nam đang có sự biến đổi khá lớn, có sự du nhập của những tôn giáo mới đặc biệt là Thiên chúa giáo (sau này được gọi là Công giáo); hay phật Hòa Hảo. Chính những điều này đã được Hồ Chí Minh tiếp thu một cách chủ động chứ không bị động.
Nó dần hình thành nên trong Hồ Chí Minh tư tưởng về tôn giáo, về những vấn đề tôn giáo trong đó có vấn đề đoàn kết tôn giáo. Thứ nhất, sự tiếp thu truyền thống yêu nước, sau này đã trở thành chủ nghĩa yêu nước trong Hồ Chí Minh. Do vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của đất nước ta đã đem lại cho nhân dân không ít thuận lợi. Nhưng bên cạnh những thuận lợi, thì Việt Nam 10 z cũng phải đối mặt với rất nhiều những thử thách khắc nghiệt của thiên tai, địch họa.
Lịch sử dựng nước và giữ nước là sự tiếp nối hàng ngàn năm những cuộc đấu tranh không mệt mỏi chống thiên tai như hạn hán, bão lũ; chống lại kẻ địch xâm lược như quân Hán, quân Nguyên Mông,. Từ trong cuộc đấu tranh trường kì ấy đã nảy sinh và định hình ý thức cộng đồng, ý thức tập thể, và cao hơn là ý thức dân tộc. Ý thức này đã ngấm sâu vào máu thịt con người Việt Nam, nó đã trở thành chủ nghĩa yêu nước được truyền từ đời này sang đời khác, từ ông (bà), bố (mẹ) sang con cái. Hồ Chí Minh tiếp thu một cách rất tự nhiên, giống như một loại bản năng của người Việt.
Tinh thần yêu nước đã lớn dần lên trong con người Hồ Chí Minh, đã trở thành chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước là nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, và là hành trang của Người khi đi tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh từng viết: "Lúc đầu, chính do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lênin". Yêu nước ở Hồ Chí Minh là phải giải phóng được nhân dân, đưa lại độc lập cho dân tộc.
Muốn vậy thì cần phải đoàn kết được nhân dân cả nước mà không phân biệt giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo. Hay nói một cách khác thì để đoàn kết toàn dân tộc, thì phải đoàn kết tôn giáo. Thứ hai, cùng với truyền thống yêu nước thì đoàn kết cũng là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đoàn kết không chỉ được phản ánh trong kho tàng văn học dân gian: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương - Người trong một nước phải thương nhau cùng", hay "Một cây làm chẳng lên non - Ba cây chụm lại nên hòn núi cao".
Mà còn thể hiện qua những cuộc đấu tranh của dân tộc để giành và giữ đất nước, như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Quang Trung với tư tưởng trở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân; trong Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn ". tướng sỹ một lòng phụ tử."; hay đó là hội nghị Diên hồng nổi tiếng đến hiện nay về tinh thần dân chủ, và sự đoàn kết nhất trí 11 z một lòng trong nhân dân cả nước để chống giặc ngoại xâm. Việt Nam từ xưa đến nay trong lịch sử dân tộc, là một đất nước nhỏ không có những cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo. Nhưng Việt Nam ngay từ khi dựng nước đã trải qua nhiều cuộc kháng chiến, cách mạng để giành và giữ nền độc lập của dân tộc.
Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc hình thành tư tưởng của mình, đặc biệt là trong việc hình thành nên tư tưởng đoàn kết. Bởi lịch sử dạy cho người Việt Nam nói chung, Hồ Chí Minh nói riêng rằng đoàn kết là sức mạnh. Và đoàn kết ở đây phải là đoàn kết toàn dân tộc không phân biệt giai cấp, giàu nghèo, tôn giáo, đảng phái. Thứ ba, đó là tinh thần tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách.
Trong các giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, tương thân, tương ái là những nét hết sức đặc sắc. Truyền thống này hình thành cùng với hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm,. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ "đồng" (đồng tình, đồng lòng, đồng sức, đồng minh).
Người thường nhấn mạnh nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình, có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Hồ Chí Minh nâng lên trở thành nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh : "Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được" [21, tr668].
Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để phân biệt rõ bạn, thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn. Và bất ký ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù.
Trong định nghĩa của Hồ Chí Minh về bạn - thù không có sự phân 12 z biệt tôn giáo hay không tôn giáo, tôn giáo này hay tôn giáo khác. Chỉ cần làm việc tốt cho đất nước thì đều là bạn. Có lẽ cũng chính bởi cách tư duy này, lối phân biệt "bạn - thù" này mà đã giúp Hồ Chí Minh không mắc phải những sai lầm trong việc đoàn kết dân tộc, và trong đó có sự đoàn kết tôn giáo. Thứ tư, ở Việt Nam có một điều đặc biệt những tôn giáo du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam đều được nhân dân Việt Nam tiếp thu có chọn lọc, những gì phù hợp người dân sẽ tiếp thu, còn những gì chưa phù hợp được cải biến để phù hợp.
Hay nói cách khác thì các tôn giáo được du nhập vào Việt Nam được nhân dân tiếp thu chủ động. Chính bởi vậy tôn giáo ở Việt Nam bên cạnh những điểm tương đồng với các tôn giáo trên thế giới thì nó vẫn có những điểm khác biệt so với thế giới. Ở Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa sắc tộc nhưng các tôn giáo này lại có sự hài hòa với nhau, không có những xung đột, mâu thuẫn tôn giáo sâu sắc như các nước khác. Ngay từ thời phong kiến, khi nền tôn giáo Việt Nam du nhập từ Trung Quốc, Ấn Độ.
Việt Nam trong thời kì này đã xuất hiện tam giáo, đặc biệt ở thời kỳ nhà Trần, đây là thời kì được các nhà nghiên cứu lịch sử, tôn giáo gọi là thời kì tam giáo đồng nguyên. Nhà Trần được xem là một trong những triều đại phát triển rực rỡ nhất lịch sử phong kiến Việt Nam. Đối với tôn giáo, có lẽ nhà Trần cũng tạo nên những dấu ấn và sự khác biệt mà chưa triều đại nào có được. Phải chăng cũng vì vậy mà triều Trần luôn được coi là triều đại có sự phát triển rực rỡ của các tôn giáo.
Mặc dù nhà Trẫn vẫn coi trọng và đề cao Phật giáo, nhưng không có tình trạng cấm đạo, cấm tôn giáo, hay bài trừ tôn giáo khác. Mỗi một tôn giáo đều có một vị trí của riêng mình trong mỗi triều đại phong kiến. Nho giáo là rường cột chính trị của quốc gia; Phật giáo là tư tưởng chỉ đạo cho đời sống tinh thần; Đạo giáo là để phục vị đời sống tín ngưỡng phong phú của người dân Đại Việt. Có thể nói, quan niệm này đã 13 z giúp cho các tôn giáo trở nên có sự bình đẳng nhất định trong xã hội phong kiến thời Trần.
Nó có tác dụng lớn trong việc hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo cũng như là đoàn kết tôn giáo. Đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn, từ một nước phong kiến độc lập đã trở thành một nước thuôc địa của Pháp. Cùng với sự xâm lược về chính trị, đó là sự du nhập văn hóa; đặc biệt là du nhập của một tôn giáo mới - Công giáo (thời kì trước được gọi với cái tên là Thiên chúa giáo). Công giáo khi mới du nhập vào Việt Nam đã bị thực dân Pháp lợi dụng làm bàn đạp để xâm lược Việt Nam, sau này được sử dụng như công cụ để "ru ngủ" nhân dân Việt Nam giúp Pháp tiến hành khai thác thuộc địa.
Bởi lý do đó, Công giáo được chính quyền thực dân Pháp bảo hộ, bên cạnh đó thì những tôn giáo khác bị đè ép đặc biệt là Nho giáo và Phật giáo. Từ những chính sách tôn giáo đó của thực dân Pháp đã dẫn đến những mâu thuẫn tôn giáo ở Việt Nam. Tuy nhiên, những mâu thuẫn này không quá lớn, nó không tạo ra những xung đột tôn giáo ở Việt Nam. Như đã phân tích ở trên, mâu thuẫn tôn giáo ở Việt Nam không lớn, không thể tạo nên những xung đột hay chiến tranh tôn giáo.