đặt vấn đề tôn giáo trong vấn đề dân tộc. Ông cho rằng: “Đồng bào công giáo đều anh em ta cả”. Vì vậy, giáo cũng như lương, ai cũng có lòng yêu nước. Ngay từ thời đó, ông đã nhận thức được “yêu nước và kính Chúa” gắn liền với nhau.
Phan Bội Châu đã kêu gọi lương giáo đoàn kết và tin tưởng ở khối đoàn kết đó. “Bởi vì ta lại với ta Lẽ đâu lương giáo toan là hại nhau Suy một bụng đồng bào tương ái Người cùng người ai dại gì đâu Đã là đồng chủng đồng cừu Yêu nhau thì quyết cứu nhau phen này” 64, 57 - 58. Tuy nhiên, do hạn chế tầm nhìn của thời đại và nhãn quan chính trị, tư tưởng đoàn kết của Phan Bội Châu không tránh khỏi những điều bất cập. Ông không đặt ra vấn đề phải phân biệt rõ ràng giữa người dân Công giáo yêu nước chân chính với kẻ đội lốt thiên chúa giáo cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp.
Trong vấn đề đoàn kết lương giáo có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là người dầu tiên thực hiện thành công chủ trương, chính sách đoàn kết lương giáo. Người kêu gọi đoàn kết lương giáo không chỉ nhằm xóa đi nhiều thành kiến vốn có trong quá khứ mà còn nhằm chống lại chính sách chia rẽ lương giáo nguy hiểm của bọn thực dân, phong kiến; nhằm tăng cường lực luợng đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, không chỉ kháng chiến mà cả kiến quốc, không chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Để phát huy sức mạnh của đoàn kết lương giáo chống lại âm mưu chia rẽ phá hoại cách mạng của kẻ thù, ngay tại cuộc họp đầu tiên của hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời ngày 3/ 9/1945, khi đề cập đến nhiệm vụ cấp bách của z 16 Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quyết tâm và lập trường của Chính phủ đối với vấn đề tôn giáo. Người nói: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào công giáo và đồng bào lương để dễ bề thống trị.
Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” 39, 9. Xuất phát từ nhiệm vụ bức xúc của cách mạng dân tộc dân chủ, Hồ Chí Minh đã đưa ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào các dân tộc Việt Nam, trong đó có đồng bào các tôn giáo hãy đoàn kết lại để cùng nhau thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày 19/12/1946, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Hỡi đồng bào Chúng ta phải đứng lên Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc.
Đối xử bình đẳng, dân chủ về các quyền và nghĩa vụ của người theo tôn giáo và không theo tôn giáo cũng là một biểu hiện quan trọng của đoàn kết lương giáo. Trong cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống” 39, 8. Theo Hồ Chí Minh, trong điều kiện Việt Nam, để cách mạng thắng lợi, phải đoàn kết tất cả những người Việt Nam yêu nước, phải đoàn kết lương giáo trong một mặt trận dân tộc thống nhất để giành cho được độc lập của dân tộc. Theo Người, những người Việt Nam yêu nước, mặc dù có thế giới quan khác nhau, có lợi ích cơ bản khác nhau, thậm chí đối lập nhau vẫn phải tiến hành z 17 chiến lược đoàn kết và có thể đoàn kết được.
Có thể thực hiện thắng lợi chiến lược đó bởi mọi người Việt Nam đều yêu nước, mọi tín đồ tôn giáo chân chính đều có chung mong muốn mình được tự do, hạnh phúc, đều muốn nước nhà được độc lập. Ưu tiên giải quyết lợi ích dân tộc, kết hợp hài hòa với việc giải quyết lợi ích giai cấp bằng cách tăng cường sức mạnh dân tộc, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng cả trong kinh tế, chính trị và xã hội - có thể nói là quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh. Đối với vấn đề tôn giáo, tình hình cũng tương tự. Hồ Chí Minh luôn tôn trong quyền tự do tín ngưỡng của bà con giáo dân, tạo điều kiện để đồng bào giáo dân được sinh hoạt tôn giáo theo giáo lý của mình.
Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh đến nghĩa vụ công dân của đồng bào giáo dân đối với Tổ quốc. Theo Người, thế giới quan của những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo là khác nhau nhưng tất cả đều phải yêu nước, có trách nhiệm đối với đất nước. Vì thế mà việc thực hiện đoànn kết lương giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc nhằm mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là cực kỳ quan trong. Như vậy, so với tư tưởng của C.
Lênin, về nguyên tắc, Hồ Chí Minh không có gì khác biệt nhưng mục tiêu cũng như chiến lược đoàn kết đã được cụ thể hóa cho phù hợp với tình hình và hoàn cảnh Việt Nam. Lênin, mục đích là chủ nghĩa xã hội thì ở Hồ Chí Minh là nước độc lập, dân tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc và học hành. Đối tượng đoàn kết của C. Lênin là công - nông thì ở Hồ Chí Minh là mọi người Việt Nam yêu nước, là đồng bào giáo và đồng bào lương.
Do đối tượng của chiến lược đoàn kết được mở rộng nên nội dung và hình thức của nó cũng được mở rộng. Có thể nói, ở Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc được khái quát trong 6 chữ: “Rộng rãi -Toàn diện - Lâu dài”. z 18 Đoàn kết được thể hiện cả trong kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội. Đoàn kết không phải là một thủ đoạn chính trị mà là một chiến lược nhất quán.
Người nói: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc” 39, 606. Trung thành với nguyên tắc mác xít là muốn thay đổi ý thức xã hội thì phải thay đổi tồn tại xã hội, Hồ Chí Minh đã khéo vận dụng nguyên tắc ấy vào thực tế Việt nam. Người chủ trương “ý dân là ý chúa”, vì vậy “dân muốn gì ta phải làm ấy”. Người nói: “Nguyện vọng của đồng bào giáo dân là: phần xác ấm no, phần hồn thong dong.
Muốn đuợc như thế thì phải ra sức củng cố hợp tác xã, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho xã viên” 44, 606. Nhờ am tường đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, am tường đặc điểm của đức tin tôn giáo mà Hồ Chí Minh đã có cách giải quyết đúng đắn, cũng nhờ đó xung đột tư tưởng giữa người có đạo và người không có đạo không những không bị khơi dậy, ngược lại có thể hòa hợp với nhau trong một mục tiêu thống nhất - vì Tổ quốc, vì đồng bào. Theo Người, đồng bào có đạo cơ bản cũng là người lao động, yêu nước. Họ cũng cần sung sướng và hạnh phúc, cũng cần có cơm ăn, áo mặc và được học hành.
Đó là điểm chung giữa tôn giáo và cách mạng, giữa con người tín đồ với con người công dân trong một tín đồ. Trong lời phát biểu nhân phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III, Người nói “.có đồng bào theo đạo Thiên chúa đã nói: sống theo Đảng, chết theo Chúa. Câu nói ấy là tổng kết một nhận thức rất đúng tâm trạng của những người đồng bào theo đạo có tinh thần yêu nước, họ theo Đảng nhưng vẫn tin chúa. Chúng ta cần phải biến câu nói ấy thành khẩu hiệu để giáo dục và động viên đồng bào có đạo hăng hái tham gia sản xuất và chiến đấu” 45, 575.
Theo Hồ Chí Minh, trong tín ngưỡng tôn giáo có nội dung mang tính nhân nghĩa, nhân văn. Những nội dung đó phù hợp với chế độ ta, bởi vậy theo Người: z 19 “Nếu các Giáo chủ sinh ra trong hoàn cảnh hiện nay thì chắc các ngài cũng sẽ đấu tranh vì người nghèo như người Cộng sản” 59, 79. Đặt tư tưởng tôn trọng, khoan dung, mềm dẻo, linh hoạt, thoáng rộng, không định kiến với tôn giáo tín ngưỡng của Người vào bối cảnh lúc đó, khi còn nhiều người cộng sản chống tôn giáo, hoặc không chấp nhận tôn giáo; ở các nước chủ nghĩa xã hội, tư tưởng vô thần cực đoan đang khá thịnh hành: chỉ thấy tôn giáo tín ngưỡng là “duy tâm”, “lạc hậu”, “phản khoa học”, “phản động”., chúng ta mới thấy tầm trí tuệ cao, tính độc lập, sáng tạo chiều sâu nhân văn trong ứng xử khoan dung của Người. Ăngghen phải trực tiếp đấu tranh vạch rõ thế giới quan sai lầm của tôn giáo và sự lợi dụng tôn giáo của các giai cấp thống trị nhằm xác lập ý thức hệ, thế giới quan mới dẫn đường giai cấp vô sản.
Còn ở Việt Nam, trước nguy cơ mất còn của dân tộc, quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, cuộc đấu tranh về mặt thần học, giáo lý chưa phải là vấn đề bức thiết mà vấn đề nổi lên là vấn đề đấu tranh giữa tôn giáo và dân tộc, giữa các cộng đồng tôn giáo với toàn thể cộng động dân tộc để tạo lực lượng cách mạng, đem sức ta giải phóng cho ta. Cho nên, ở tư tưởng Hồ Chí Minh không có sự đấu tranh trực diện với thần học, giáo lý các tôn giáo mà chủ yếu là cố gắng chỉ ra sự thống nhất giữa mục tiêu của cách mạng với lý tưởng của các tin ngưỡng tôn giáo, bỏ qua “tiểu dị” tìm ra điểm “đại đồng” giữa tín ngưỡng tôn giáo với sự nghiệp cách mạng. Như vậy, do hoàn cảnh lịch sử khác nhau mà C. Ăngghen và Hồ Chí Minh có sự ứng xử khác nhau, và trong hai trường hợp đó đều đúng.
Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác của Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Và thực tế lịch sử Việt Nam đã chứng minh sự vận dụng đó là đúng đắn và sáng tạo. Hồ Chí Minh, trong giải quyết vấn đề tôn giáo, học ở chủ nghĩa Mác - Lênin tinh thần đổi mới và sáng tạo, chứ không câu nệ vào câu chữ. z 20 Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc bản chất niềm tin tôn giáo của tín đồ.