Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CON NGƢỜI MỚI 1.1 Cơ sở thực tiễn 1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội thế giới Theo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác, lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử vận động, phát triển, thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là do sự tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Và như vậy, xét cho đến cùng, lịch sử phát triển của xã hội loài người phải thông qua hoạt động có ý thức, có mục đích của con người. Quá trình phát triển của lịch sử loài người đã chứng minh rằng sự thay thế một hình thái kinh tế - xã hội này bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn và tiến bộ hơn, chính là do xuất hiện một lực lượng mới, một giai cấp mới, đại diện cho một phương thức sản xuất mới ngay trong lòng hình thái kinh tế - xã hội đó, và nó đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của nó bằng các cuộc cách mạng xã hội.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh lên chủ nghĩa tư bản độc quyền - chủ nghĩa đế quốc. Thông qua chiến tranh xâm lược các nước nhược tiểu, và biến các nước này thành thuộc địa, các nước đế quốc chủ nghĩa hầu như đã phân chia xong thị trường thế giới. Những mâu thuẫn lớn của thời đại ngày càng gay gắt: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ở các nước đế quốc; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân; mâu thuẫn giữa nhân dân lao động mà chủ yếu là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, trước hết là triều đình phong kiến ở các nước thuộc địa phương Đông; mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa với giai cấp tư sản bản xứ và giai cấp tư sản thực dân; mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau v. Những mâu thuẫn đó ngày càng gay gắt, đòi hỏi phải được giải quyết bằng những cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc xóa bỏ ách áp bức, nô dịch, giành độc lập dân tộc trong những năm đầu thế kỷ XX.
13 z Trong bối cảnh thế giới phức tạp đó, cuộc cách mạng tháng mười Nga vĩ đại năm 1917 dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích và LêNin nổ ra và giành được thắng lợi, đã mở ra một thời đại mới đó là thời đại đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại, giải phóng con người. Thời đại mới sản sinh ra những con người mới, chính quần chúng nhân dân lao động đông đảo, khi đã được giác ngộ mục tiêu lý tưởng của cách mạng, đã làm nên những thắng lợi vĩ đại, xóa bỏ mọi ách áp bức, bóc lột, đòi lại những quyền lợi và giá trị đích thực của con người, đồng thời, trong quá trình đấu tranh đó cũng tự xây dựng mình thành những con người mới của thời đại. Thắng lợi của cách mạng tháng mười Nga đã chỉ ra rằng: ở những năm đầu của thế kỷ XX, chỉ có những phong trào cách mạng nào, xác định được mục tiêu giải quyết đồng thời những mâu thuẫn lớn của thời đại và ở nước mình thì mới có thể đi đến thắng lợi. Một cuộc cách mạng như vậy chỉ có thể do giai cấp công nhân - giai cấp đại diện cho con người mới của thời đại và Đảng cộng sản ở nước đó đứng ra lãnh đạo và tổ chức dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - LêNin thì mới đánh đổ được sự áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa tư bản.
Cách mạng tháng mười Nga đã vạch ra con đường cách mạng đúng đắn cho phong trào cách mạng thế giới, đó là độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Con người sáng tạo ra lịch sử của mình, nhưng đồng thời cũng chính là sản phẩm của lịch sử. Thắng lợi của cách mạng tháng mười Nga đã tạo ra một mẫu người hoàn toàn mới. Từ sau cách mạng tháng mười Nga, những thành tựu xuất sắc về xây dựng cơ sở vật chất và tinh thần, về phát triển khoa học - kỹ thuật ở các nước xã hội chủ nghĩa, đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng tốt đẹp hơn khi sống dưới ách thống trị của các giai cấp bóc lột, tạo điều kiện hình thành và phát triển những con người mới, những con người đại diện cho phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, có đầy đủ những năng lực để làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ chính bản thân mình trong công cuộc xây dựng một xã hội không có tình trạng áp bức, bóc lột, một xã hội mà “trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [55, tr.628] 14 z Sự xuất hiện những con người mới của thời đại mới, đã tạo những cơ sở thực tiễn rất quan trọng cho Hồ Chí Minh học tập, vận dụng xây dựng con người mới Việt Nam phù hợp với đặc điểm, điều kiện và hoàn cảnh cách mạng Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam Từ giữa thế kỷ XIX trở về trước, xã hội Việt Nam là một xã hội phong kiến, với nền kinh tế nông nghiệp nhỏ và lạc hậu.
Trong điều kiện đất không rộng, người không đông, lịch sử Việt Nam là lịch sử chiến đấu và chiến thắng oanh liệt các thế lực ngoại xâm. Từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến thời Quang Trung, dân tộc ta đã đánh bại mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp bội lần. Điều đó chứng tỏ con người Việt Nam truyền thống là con người anh hùng có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dũng cảm, sức mạnh quật cường và ý chí quyết chiến, quyết thắng chống kẻ thù và tinh thần lao động sáng tạo để xây dựng cuộc sống của cộng đồng. Trong công cuộc dựng nước và giữ nước đã tạo nên con người Việt Nam có tinh thần đoàn kết, tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong những lúc nguy nan, đặc biệt là trong thử thách ác liệt của những cuộc chiến tranh chống quân xâm lược.
Tinh thần đoàn kết và sự đùm bọc này lại càng được nhấn mạnh, được nâng lên thành lý luận sắc bén khi nhân dân ta phải đứng trước một kẻ thù lớn mạnh hơn gấp nhiều lần và phải tiến hành chiến đấu trường kỳ gian khổ. Như vậy, trong trường kỳ lịch sử, dân tộc ta đã có những con người anh hùng xuất hiện với hai giá trị cơ bản là anh dũng trong chiến đấu và thông minh sáng tạo trong lao động sản xuất để tồn tại trên mảnh đất luôn luôn bị giặc ngoại xâm và thiên tai đe dọa, hình ảnh về con người anh hùng, con người lý tưởng thường gắn liền với những chiến công đánh giặc giữ nước, với công cuộc giải phóng dân tộc. Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, vấn đề đạo làm người trong quan niệm của giai cấp thống trị đã được hệ thống hóa và có cơ sở lý luận nhằm phục vụ cho việc xây dựng và duy trì chế độ phong kiến. Nó là một bộ phận không thể tách rời của ý thức hệ phong kiến.
Theo quan điểm của giai cấp thống trị phong kiến thì trong phẩm chất của con người, phải lấy đạo trung hiếu làm đầu, lấy lễ để ràng buộc bản thân. Và ở 15 z mỗi con người, việc tu thân theo những quy tắc đó là tiêu chuẩn số một của cuộc đời. Con người phải coi tiêu chuẩn ấy là nền tảng cho mọi hoạt động xã hội, kể cả hoạt động chính trị. Các triều đại phong kiến ở Việt Nam coi việc xây dựng con người theo những tiêu chuẩn đó, thành một hoạt động có chủ trương cụ thể, có tổ chức chặt chẽ của triều đình.
Những con người được xây dựng theo những khuôn mẫu đó ngày càng xuất hiện đông đảo trong đời sống kinh tế - xã hội phong kiến thông qua các kì thi tuyển. Nhưng với quan niệm về xây dựng con người theo khuôn mẫu như vậy, mục đích là chỉ nhằm duy trì trật tự của chế độ phong kiến và củng cố quyền uy tối thượng của nhà vua, hay nói một cách khác là nó chỉ phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Do đó, về cơ bản, nó đối lập với lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân bị bóc lột. Nó không hề đề cao đến giá trị lao động của con người, mà chỉ đề cao đạo tu thân, trị nước, đề cao việc học hành thi đỗ để làm quan, để phục vụ cho triều đình phong kiến.
Nó coi thường những tri thức cụ thể về sinh hoạt kinh tế và tri thức khoa học tự nhiên. Vì vậy, những con người được xây dựng đào tạo ra theo khuôn mẫu ấy, không những trở thành vật chướng ngại cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta thời kỳ phong kiến, mà tàn dư của nó còn ảnh hưởng xấu đến công cuộc đổi mới hiện nay. Đến nửa cuối thế kỷ XIX, sau khi lật đổ triều đại Tây Sơn, triều đình nhà Nguyễn đã thi hành một chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động: trong nước thì tăng cường đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân, bóc lột nhân dân thậm tệ, làm đời sống của quần chúng nhân dân lao động ngày càng cùng cực, đối với bên ngoài thì thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, đóng cửa, khép kín. Về vấn đề con người triều đình nhà Nguyễn vẫn chủ trương xây dựng con người theo khuôn mẫu cũ đã lỗi thời, nên đã không mở ra được khả năng cho con người Việt Nam có cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp được với sự phát triển của thời đại.
Không kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, vì vậy, đã không phát huy được những thế mạnh truyền thống của dân tộc, không tạo ra được tiềm lực vật chất và tinh thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc trước sự de dọa xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây.