CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về chùa ở Việt Nam Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “chùa” là công trình kiến trúc làm nơi thờ Phật. Chùa ở Việt Nam là công trình kiến trúc để thờ chư Phật, Bồ Tát, Thiên Thần, Hộ Pháp; là nơi thờ các vị tổ sư, các vị trụ trì quá cố; nơi thờ linh cốt của những quý Phật tử. Ngôi chùa còn là nơi cư ngụ, tu hành, học tập, nghiên cứu giáo lý Phật giáo của các Tăng ni; là nơi hành lễ của các Tăng ni, Phật tử. Ngoài ra, chùa còn là nơi tu dưỡng tinh thần, thắng cảnh du lịch, trung tâm hoạt động lễ hội, bảo tàng nghệ thuật dân tộc, cơ sở giáo dục,… [4].
Qua gần 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam, kiểu kiến trúc chùa cũng như Phật điện ở bên trong dần thay đổi. Nhưng nhìn chung tổng thể chùa ở Việt Nam đều có một số đặc điểm chung. Chùa không phải là một ngôi nhà mà là một quần thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau. Tùy theo cách bố trí những ngôi nhà này mà chùa được chia thành những kiểu khác nhau.
Tên các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Trung Quốc có dạng gần với bình diện kiến trúc chùa, gồm các kiểu chùa sau: - Kiểu chùa đơn giản nhất là kiểu chữ Đinh (丁) (Hình 1. Chùa có nhà chính điện hay nhà thượng điện, tức ngôi nhà đặt các bàn thờ Phật, nối thẳng góc với nhà bái đường hay nhà tiền đường ở phía trước. Nhà bái đường đôi khi còn được gọi là chùa hộ vì ở đây thường có các tượng Hộ Pháp [5]. CHÍNH ĐIỆN NHÀ BÁI ĐƯỜNG Hình 1.1 Kiểu chùa chữ Đinh - Kiểu chùa phổ biến hơn là kiểu chữ Công (工) (Hình 1.
Chùa có nhà chính điện và nhà bái đường song song với nhau và được nối với nhau bằng một ngôi nhà gọi là nhà thiêu hương - nơi nhà sư làm lễ. Có nơi gọi gian nhà nối nhà bái đường với Phật điện này là ống muống [5]. 4 do an Hình 1.2 Kiểu chùa chữ Công - Kiểu chùa thứ ba là kiểu chữ Tam (三) (Hình 1. Chùa có ba nếp nhà song song với nhau, thường được gọi là chùa hạ, chùa trung và chùa thượng, như kiểu chùa Kim Liên, chùa Tây Phương ở Hà Nội [5].3 Kiểu chùa chữ Tam Tên những kiểu chùa này được dựa vào cụm kiến trúc chính.
Trong các chùa, ngoài cụm kiến trúc này, còn có những ngôi nhà khác như nhà tổ, nơi thờ các vị sư từng trụ trì ở chùa nay đã tịch, hoặc nhà tăng, nơi ở của các nhà sư, và một số kiến trúc khác như gác chuông, tháp và tam quan. Kiến trúc chùa truyền thống ở Việt Nam khá đa dạng, biểu hiện qua không gian, các phong cách kiến trúc địa phương. Chẳng hạn, chùa kiểu chữ Tam phổ biến ở miền Nam, hơn ở miền Bắc. Ngay cách xây dựng ngôi chùa kiểu chữ Tam ở miền Nam cũng khác với các chùa cùng kiểu ở miền Bắc.
Những nếp nhà ở các chùa cổ như chùa Giác Lâm, chùa Giác Viên (thành phố Hồ Chí Minh) có 5 do an đường nóc ngắn, với bốn mái rộng, mà nhân dân địa phương quen gọi là nhà kiểu bánh ít (một loại bánh làm bằng bột gạo ở miền Nam). Để tạo ra một thế giới gần thiên nhiên, tĩnh lặng nhưng tươi đẹp, chùa Việt Nam thường có vườn cây, vườn hoa, nhiều chùa còn có cả ao và hồ sen. Ngoài người Kinh, một số dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam cũng có chùa. Chùa người Mường làm bằng tranh tre đơn giản.
Chùa người Khơme được xây dựng đẹp, có bộ mái biểu hiện ảnh hưởng Campuchia và Thái Lan. Chùa người Hoa cũng có sắc thái kiến trúc riêng.4 minh họa một kiểu chùa ở Việt Nam.4 Chùa Vĩnh Nghiêm (Quận 3) 1.2 Tổng quan về nhang Nhang (hương) được chế tạo từ các chất của thực vật có mùi thơm, thông thường được bổ sung thêm tinh dầu chiết ra từ thực vật hay có nguồn gốc động vật, dùng để tỏa ra khói có mùi thơm khi cháy. Nhang được sử dụng trong các mục đích tôn giáo, chữa bệnh theo quan niệm thuở xưa hay đơn thuần mang tính thẩm mĩ. Nhang ở dạng bột hay hạt nhỏ được bỏ vào than nóng hay trong bình hương, lư hương.
Nhang cũng được làm ở dạng thuận tiện hơn cho việc đốt như que, vòng hình nón hay dạng cái nêm. Với những dạng này, nhang được đốt cho bắt lửa sau đó dập tắt ngọn lửa để nó cháy chậm hơn và tỏa ra khói có mùi thơm. Nhang đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người châu Á, thường được sử dụng trong ngày rằm, ngày lễ, tết. 6 do an Nghề làm nhang cách thức giản dị, vốn ít, nhân công gia đình từ trẻ tới già ai cũng có thể góp phần vào được.
Các nguyên liệu làm nhang thường dễ kím và có sẵn trong tự nhiên như: [6] - Bột vỏ cây Ô đước mọc theo mé sông, bờ suối trong rừng vùng Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa. Ô đước có tên khoa học là Cinnamomun argenteun thuộc về loại Lauracées, không lớn, đường kính thân cây độ 25 - 30 cm, lá lớn như lá xoài voi, tượng và mặt trên láng bóng. Trong vỏ cây ô đước có chất nhớt, dính như keo. - Cây tre, nứa đủ loại để chẻ làm chân nhang.
- Hương thơm được chiết xuất từ gỗ trầm, bạch đàn, cây quế có nhiều ở các tỉnh miền Trung như Quảng trị, Thừa Thiên, Quảng Nam. - Phẩm màu để nhuộm chân nhang, giấy bao nhang. Dụng cụ làm nhang rất giản dị thường chỉ cần: bàn dài, chậu sành và một cái bàn tròn bằng cây hay bằng tôn, làm nhang thơm hay nhang thẻ thì dùng thêm một miếng ván cây nhỏ có núm để cầm và dùng để lăn nhang. Nếu làm nhang vòng thì cần một cái khuôn bằng cây gỗ phẳng, trên có đục một rãnh hình nhang vòng xoáy trôn ốc, lớn nhỏ tùy theo cỡ nhang dự định làm.
Có ba loại nhang là nhang đất, nhang thẻ và nhang vòng cho nên cách thức làm hơi khác nhau, nhưng trừ cách làm nhang vòng còn lại hai loại nhang thì có công đoạn chính như mô tả ở Hình 1.5: [6] Chẻ Làm Làm Nhang chân bột nhang thân nhang thành phẩm nhang Hình 1.5 Sơ đồ các công đoạn chính trong quá trình làm nhang Các công đoạn làm nhang được mô tả như sau: - Đầu tiên phải chẻ chân nhang. Cây tre dùng làm nhang sau khi mua về được đem cưa ra từng đoạn ngắn, dùng dao sắc chẻ ra thành thanh nhỏ (đem ngâm nước rồi phơi khô để nhang cháy đượm). Sau đó lại chẻ các thanh ấy ra vuốt nhẵn và tròn để làm chân nhang. Nhưng đối với nhang thường nghĩa là nhang ma, nhang đất thì không cần vuốt nhẵn.
Chân nhang chẻ xong được nhuộm đỏ phía dưới trước khi làm thân nhang hoặc về sau mới nhuộm. - Làm bột nhang: Bột để se thân nhang lấy từ vỏ cây Ô đước. Người làm nhang thường mua hay vào rừng vạt đẽo sau đó đem về phơi khô, rồi dùng cối đá giã (đâm) nát ra bột. Đem bột rây nhỏ, mịn, bột nào còn to thì bỏ vào cối giã lần thứ 7 do an hai.
Bột mịn nhuyễn gọi là bột áo để bao phía ngoài nén nhang, còn bột to gọi là bột hồ để se phía trong. Khi làm loại nhang thơm hay nhang thẻ thì phải dùng gỗ trầm, gỗ bạch đàn, quế chi, chẻ nhỏ ra và tán nhỏ rồi rây kỹ. - Làm thân nhang: Lúc se thân nhang cần ba loại bột. Loại thứ nhất là bột hồ Ô đước, tiếp theo là bột nửa hồ nửa áo và loại cuối cùng là một phần bột hồ và hai phần bột áo.
Lấy chân tre chia ra từng nắm (chét) nhỏ, dùng một cây cơ cặp vào để trừ phía dưới chân nhang, đoạn nhúng phần thân nhang sẽ bọc bột vào thùng nước lạnh cho ngập tới đầu thân nhang. Sau khi nhúng nước, kéo tre ra vẩy cho thật ráo nước. Đem vùi đầu tre đã nhúng nước lạnh vào loại bột hồ thứ nhất, nhúng vào bột xong bỏ ra ngay và giũ cho rơi bớt bột đồng thời phải cầm tách các cây nhang ra cho khỏi dính chùm vào nhau. Lặp lại các bước như thế đến khi nào không thấy nước ngấm ra ngoài cây nhang nữa là được.
Đem để nắm nhang đó lên giá gác cho khô rồi lấy nắm khác nhúng bột. Thường nhúng luôn một muôn chân nhang, lúc này lấy nắm đã nhúng nước, nhúng bột đầu nhúng lại vào nước lạnh, đem vùi vào loại bột thứ hai. Lần này ở cây tre nhang đã có bột Ô đước, gặp nước sẽ có thể rời ra, nên phải cầm đầu cây nhang tách ra một chút và nhúng xuống nước cũng nên lấy ra ngay. Lần này nên cầm xòe chân nhang ra như cái quạt, để nằm xuống bàn rắc loại bột thứ ba lên, xong nắm chụm tre lại giũ bột thừa đã bám vào nhang, nhúng xong đem gác lên giá phơi cho khô.
Thân nhang nhúng được ba lần nước, ba lần bột thì lớn bằng chiếc đũa, nhưng bột thoa chưa được chặt, phải lăn để thân nhang se lại. Khi làm nhang ma, nhang đất rẻ tiền phải lấy một thùng đựng đinh cũ, hoặc kiếm thùng bằng tôn, kẽm, sắt tây có đáy cao độ 40 phân. Đem xếp đầu nhang xuống đáy thùng, để thùng nằm ngang xuống, rồi lấy tay lăn đi lăn lại để cho nhang mới làm xong được chắc lại. Lăn độ 15 - 20 phút sau đó mang để lên giàn phơi nắng cho khô.
Nhang này được xếp thành bó 200 cây để bán. - Nhang thơm là loại nhang trong có trộn gỗ thơm như trầm, bạch đàn, quế chi, thường nhang này đựng trong bao hay thẻ, mỗi bao có 60 cây, nên được gọi là nhang thẻ. Nguyên liệu làm nhang thẻ cũng như làm nhang đất, nhưng khác ở giai đoạn làm thân nhang. Ba phần bột làm thân nhang gồm: một phần là bột hồ trộn với bột thơm, hòa với nước lạnh; một phần nữa là bột thơm trộn với ít bột hồ, rây thật mịn rồi để khô dùng làm bột áo.
Bột thơm làm bằng gỗ cây trầm, bạch đàn, quế chi được tán nhỏ và rây kỹ. Sau khi trộn, nhồi bột rồi thì lấy tay se bột thành một cục nhỏ. Lấy que nhang đặt vào phần bột đó rồi lăn bột bọc kín lấy chân nhang. Muốn se đều và nhang được tròn thì lấy một miếng cây dẹp, 8 do an ngang 10 phần, dọc 20 phân, dày 1 phân, phía lưng có núm cầm, cầm núm ấy lăn lên mình cây nhang, lăn đi lăn lại vài lần cho tròn và nhẵn.