Chương 1: Khái lược về sự xuất hiện và hoạt động của báo Dân Chúng. Chương 2: Cuộc đấu tranh đòi dân chủ. Chương 3: Cuộc đấu tranh đòi cải thiện dân sinh. 8 z CHƢƠNG 1: KHÁI LƢỢC VỀ SỰ XUẤT HIỆN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BÁO DÂN CHÖNG 1.
Tình hình thế giới, Việt Nam và báo chí nói chung của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm 1936-1939. Tình hình thế giới và Việt Nam những năm 1936-1939. Tình hình thế giới Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, nền kinh tế các nƣớc, nhất là các nƣớc tƣ bản phát triển, vẫn còn để lại những hậu quả nặng nề. Những mâu thuẫn xã hội vốn có trong lòng các nƣớc này, mâu thuẫn giữa các nƣớc đế quốc với nhau càng thêm sâu sắc.
Trong thời gian này Liên Xô đang trên đà phát triển, hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1933-1937). Phong trào đấu tranh cách mạng và giải phóng dân tộc bùng nổ ở nhiều nƣớc trên thế giới. Trƣớc tình hình đó, giới cầm quyền một số nƣớc tƣ bản, tìm lối thoát bằng con đƣờng phát xít hóa đất nƣớc. Chủ nghĩa phát xít đã hình thành và phát triển ở Italia, Đức, Nhật Bản.
Lò lửa chiến tranh đã đƣợc nhen nhóm ở châu Âu và châu Á. Cuối năm 1935, Đức, Nhật, sau đó là Italia đã ký kết “ Hiệp ƣớc chống Quốc tế Cộng sản”. Trục phát xít Béclin-Tôkiô-Rôma hình thành. Chủ nghĩa phát xít còn xuất hiện ở nhiều nƣớc khác, nhƣ Ba Lan, Bungari, Hunggari, Tây Ban Nha.
Họa phát xít và nguy cơ chiến tranh phát xít đang đe dọa cả loài ngƣời. Trƣớc tình hình đó, Đại hội lần thứ VII, Quốc tế Cộng sản họp tháng 7/1935 ở Mátxcơva với sự có mặt của 65 đoàn đại biểu Đảng Cộng sản của các nƣớc, trong đó lần đầu tiên có đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng do đồng chí Lê Hồng Phong dẫn đầu. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tham gia với tƣ cách “đại biểu tƣ vấn”. Đại hội đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhƣ xác định kẻ thù trƣớc mắt của nhân dân thế giới là chủ nghĩa phát xít; nhiệm vụ trƣớc mắt của giai cấp công nhân là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chống nguy cơ chiến tranh, bảo vệ hoà bình, thành lập mặt trận rộng rãi của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa phát xít.
9 z Trong Báo cáo đọc trƣớc Đại hội, đồng chí Đimitơrốp - Tổng bí thƣ Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản đã nhận định: “Chủ nghĩa phát xít chính là sự tiến công tàn bạo nhất của tƣ bản chống lại quần chúng lao động” “ Chủ nghĩa phát xít nắm quyền là nền chuyên chính khủng bố công khai của những phần tử phản động nhất, sô vanh nhất, đế quốc chủ nghĩa nhất của tƣ bản tài chính” “ Ngày nay trong nhiều nƣớc tƣ bản chủ nghĩa, quần chúng lao động trƣớc mắt phải lựa chọn một cách cụ thể không phải giữa nền chuyên chính vô sản với chế độ dân chủ tƣ sản, mà là giữa chế độ dân chủ tƣ sản với chủ nghĩa phát xít” [20, tr. Nghị quyết của Đại hội đã kịp thời giúp các Đảng Cộng sản đề ra chủ trƣơng đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh từng nƣớc. Nó đã thống nhất hành động cách mạng của giai cấp công nhân thế giới trong mục tiêu chung. Năm 1936, phong trào chống phát xít giành đƣợc nhiều thắng lợi.
Ở Trung Quốc, Tƣởng Giới Thạch buộc phải bắt tay với Đảng Cộng sản. Mặt trận Dân tộc Thống nhất đƣợc hình thành, gồm Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc dân Đảng Trung Quốc và những lực lƣợng yêu nƣớc dân chủ hiệp sức chống Nhật. Ở châu Âu, mặt trận nhân dân Tây Ban Nha giành đƣợc thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử đầu năm 1936. Trên cơ sở thắng lợi đó, Chính phủ Mặt trận nhân dân Tây Ban Nha đƣợc thành lập.
Tháng 4/1936, Mặt trận nhân dân Pháp giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử đã đứng ra thành lập nội các mới do lãnh tụ Đảng Xã hội Lêông Blum làm Thủ tƣớng. Đối với thuộc địa, Chính phủ Pháp có 3 quyết định quan trọng: trả tự do cho chính trị phạm; thành lập Ủy ban điều tra tình hình thuộc địa; thi hành một số cải cách xã hội cho nhân dân lao động. Tại các thuộc địa Pháp ở châu Phi, phong trào đấu tranh lên cao. Ở Angiêri, Marốc, Sênêgan, những cuộc mít tinh, biểu tình đòi dân chủ, tự do, đòi thực hiện những cải cách xã hội diễn ra ở nhiều nơi.
Tình hình Việt Nam - Tình hình kinh tế: Về nông nghiệp : Chính quyền thực dân thực hiện chính sách tạo điều kiện cho tƣ bản Pháp chiếm đoạt ruộng đất. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế, 10 z phần lớn đất đai canh tác tập trung vào tay tƣ bản Pháp và một số ít vào tay địa chủ, quan lại Việt Nam. Trong toàn quốc, khoảng 2/3 hộ nông dân không có ruộng hoặc ít ruộng. Phần lớn đất đai nông nghiệp độc canh trồng lúa.
Phần còn lại trồng ngô, khoai, sắn. Các đồn điền trồng cao su phân bố ở Nam kỳ và Nam Trung kỳ. Tính đến năm 1939, diện tích trồng cao su ở Việt Nam là 86. Ngoài cao su, các chủ tƣ bản Pháp còn trồng những cây công nhiệp khác nhƣ chè, cà phê, đay, gai, bông… Về công nghiệp: Ngành công nghiệp khai thác mỏ đƣợc đẩy mạnh hơn cả thời kỳ trƣớc khủng hoảng.
Nguyên nhân do nhiều nƣớc nhập nguyên liệu chiến lƣợc chuẩn bị cho chiến tranh. Tổng sản lƣợng công nghiệp khai thác mỏ năm 1929 trị giá 18,6 triệu đồng, năm 1939 là 29,5 triệu đồng. Sản lƣợng các ngành công nghiệp dệt, chế cất rƣợu, sản xuất xi măng tăng. Các ngành điện, nƣớc, cơ khí, lọc đƣờng, làm giấy…ít phát triển.
Về thƣơng nghiệp: Nhà nƣớc thực dân độc quyền bán thuốc phiện, rƣợu, muối và thu đƣợc lợi nhuận kếch sù. Về ngoại thƣơng, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và nông sản, nhập cảng máy móc và sản phẩm công nghiệp tiêu dùng. Tóm lại, những năm 1936-1939 là thời kỳ phục hồi và phát triển nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên sự phát triển chỉ tập trung vào một số ngành, đáp ứng nhu cầu chiến tranh.
Nền kinh tế Việt Nam vẫn bị phụ thuộc và lạc hậu. - Tình hình xã hội: Mặc dù nền kinh tế có chiều hƣớng phục hồi, nhƣng số ngƣời không có việc làm rất đông.336 ngƣời thất nghiệp. Mức lƣơng của công nhân thời kỳ này thấp so với năm đầu của cuộc khủng hoảng. Trong khi đó giá cả sinh hoạt tăng vọt, mức sống của những ngƣời làm công ăn lƣơng giảm sút.
Số đông nông dân ít ruộng hoặc không có ruộng. Nhiều nông dân trở thành tá điền. Đời sống của họ cơ cực vì địa tô chiếm gần nửa hoa lợi mùa màng. Những năm 1936-1939, thiên tai ngập lụt, vỡ đê xảy ra liên tiếp.
Năm nào cũng có nạn đói, bệnh dịch. Ngoài ra ở các làng xã, nông dân phải chịu những thủ đoạn vơ vét, bóc lột của bọn lý dịch, cƣờng hào, những hủ tục cƣới cheo, đình đám… 11 z Tƣ sản dân tộc có ít vốn, không có khả năng lập ra những công ty lớn, lại bị thuế khóa nặng nề và sự chèn ép của tƣ bản Pháp. Tầng lớp tiểu tƣ sản, trí thức bị thất nghiệp nhiều. Công chức Việt Nam lƣơng thấp, không đủ ăn.
Địa chủ vừa và nhỏ bị chủ đồn điền Pháp hoặc đại địa chủ ngƣời Việt chèn ép, lấn chiếm ruộng đất. Các tầng lớp lao động khác cũng phải chịu giá sinh hoạt đắt đỏ, thuế má tăng. Nhìn chung, đời sống của đa số nhân dân khó khăn, cực khổ. Chính vì thế, họ đã hăng hái đứng lên đấu tranh đòi tự do, cơm áo dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng.
- Tình hình chính trị: Trƣớc tình hình thế giới và trong nƣớc có nhiều biến chuyển, tháng 7/1936 Hội nghị Trung ƣơng lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng do đồng chí Lê Hồng Phong-Uỷ viên Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản chủ trì đã họp tại Thƣợng Hải (Trung Quốc). Hội nghị đã dựa trên những luận điểm cơ bản của Nghị quyết Đại hội lần thứ VII, Quốc tế Cộng sản, căn cứ vào tình hình cụ thể của Việt Nam để đề ra đƣờng lối và phƣơng pháp đấu tranh thích hợp. Nghị quyết Hội nghị đề cập tới một số vấn đề cơ bản sau đây: - “Nhiệm vụ chiến lƣợc của cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam là chống đế quốc, chống phong kiến không hề thay đổi. Nhƣng để phù hợp với tình hình mới Đảng xác định mục tiêu trực tiếp, trƣớc mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hoà bình.
Kẻ thù chủ yếu trƣớc mắt của nhân dân Đông Dƣơng là bọn phản động thuộc địa và tay sai của chúng. - Khẩu hiệu đấu tranh: Tạm thời chƣa nêu khẩu hiệu “ Đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc” và khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân nghèo” mà nêu: “ Đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình”. - Tổ chức: Chủ trƣơng thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dƣơng bao gồm các giai cấp, đảng phái, dân tộc, tổ chức chính trị, xã hội và tôn giáo khác nhau. - Phƣơng pháp đấu tranh: Kết hợp các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp; đấu tranh chính trị và hòa bình” [20, tr.146] 12 z Hội nghị Trung ƣơng tháng 7/1936 là sự vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản vào điều kiện cụ thể ở Đông Dƣơng.
Hội nghị đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lƣợc với mục tiêu cụ thể trƣớc mắt của cách mạng, mối quan hệ giữa mục tiêu đấu tranh với hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh, mối quan hệ giữa liên minh công nông với mặt trận tập hợp lực lƣợng rộng rãi, mối quan hệ giữa phong trào cách mạng Đông Dƣơng với phong trào cách mạng ở Pháp và trên thế giới… Những nội dung cơ bản của Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng tháng 7/1935 đƣợc bổ sung, phát triển thêm trong các nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng năm 1937 và 1938. Với chủ trƣơng đó, Đảng Cộng sản Đông Dƣơng đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh trên các mặt trận trong thời kỳ 1936-1939.