CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ BÁO CHÍ TRONG CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG XÃ HỘI Trong chương này, luận án sẽ phân tích, tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam trên 4 bình diện sau: về thông điệp của báo chí trong các cuộc vận động xã hội (1), về cách đánh giá hiệu quả truyền thông của báo chí trong các cuộc vận động xã hội (2), những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông của báo chí trong các cuộc vận động xã hội đó (3) và những nghiên cứu về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” (4). Thông điệp của báo chí trong các cuộc vận động xã hội Sự tham gia của báo chí trong các cuộc vận động là một vấn đề được nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực báo chí truyền thông, trong đó có không ít nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự sàng lọc thông điệp truyền tải có chủ đích của các cơ quan thông tấn, báo chí. Những thông điệp này hướng đến mục đích định hướng dư luận xã hội cũng như thu hút sự quan tâm của công chúng đối với các cuộc vận động đó. Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu trong các môi trường báo chí truyền thông khác nhau thường được triển khai theo những hướng không giống nhau.
Nghiên cứu trên thế giới Việc định hướng thông tin của báo chí trong các chiến dịch truyền thông, đặc biệt là trong các hoạt động tranh cử được nghiên cứu nhiều trên thế giới, trong một bài nghiên cứu về loạt bài được đăng trên tờ Irish Times trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Ireland ngày 17/5/2002, bằng phương pháp phân tích nội dung và sử dụng lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự thì Heinz Brandenburg, Jacqueline Hayden [161] đã chỉ ra kết quả đúng như những gì nhà báo Paul Cullen đã tố cáo các đồng nghiệp của anh “dàn xếp một vở hài kịch trong chiến dịch tranh cử này”, Paul cho ra rằng chiến dịch bầu cử này được 18 điều khiển bởi một bộ phận làm truyền thông của Fianna Fáil (hoạt động như một công ty truyền thông giải trí); kết quả phân tích nội dung chỉ ra tất cả các cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình và chuyên gia PR đều đưa chiến dịch lên làm tiêu đề chính, tuy vậy nó lại tạo ra nhiều lỗ hổng đối với các vấn đề của chiến dịch khi những nhà báo đó thay vì việc thiết lập một chương trình nghị sự với đầy đủ nội dung, định hướng tích cực cho công chúng thì lại khiến cho câu chuyện tranh cử kết thúc bằng hình ảnh bất lực của những chính trị gia khi những góc khuất của chiến dịch tranh cử bị công chúng phát giác, đây là sự thất bại cho cách làm truyền thông phô trương, công khai nhưng không thành thật. Với góc nhìn rộng hơn, William L.Benoit [193] xem xét tất cả các biến số quan trọng bao gồm kênh truyền thông của chiến dịch từ chương trình truyền hình đến các trang web của ứng viên hay gửi thư quảng cáo trực tiếp, thông điệp liên quan tới cuộc vận động, nguồn tin, phản hồi cho đến scandal, cũng như bối cảnh ảnh hưởng tới chiến dịch chính trị trong những cuộc vận động tranh cử, thông qua sự vận động của các chiến dịch trên toàn cầu. Bằng góc nhìn của lý thuyết đóng khung, ông đã chỉ ra rằng những thông điệp về các ứng viên tranh cử được cung cấp (bao gồm mọi vấn đề từ bản thân ứng viên đến những yếu tố hậu trường khác như gia đình, mối quan hệ xã hội.) trên các phương tiện truyền thông (đặc biệt là truyền hình và các tờ báo điện tử) thì sẽ tạo ra những “khung” nhận thức về ứng viên, họ sẽ lựa chọn trong những “khung” này một ứng viên mà họ cho rằng ưu tú nhất, William cho rằng truyền thông sẽ ảnh hưởng đến quá trình quyết định của cử tri thông qua những thông tin mà họ là người “đóng khung”. Cũng với hướng nghiên cứu như trên, Amy E.Jaspersonvà các cộng sự [136] khi nghiên cứu chương trình nghị sự chính trị về hoạt động bảo vệ quyền của phụ nữ với việc nạo phá thai ở bang Tennessee ở thời điểm vấp phải sự can thiệp của chính phủ với các vấn đề riêng tư, trong trường hợp này chủ trương của chính phủ đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ trong công chúng khi họ cho 19 rằng Tennessee đang trở thành khu vực kinh doanh “ngành du lịch nạo phá thai” phát triển.
Nghiên cứu này chỉ ra rằng, đã có cuộc đấu tranh giữa chiến lược đóng khung thông tin của chính phủ về vấn đề này và chiến lược đóng khung thông tin của những nhóm hoạt động xã hội phản đối chính phủ ở Tennessee, tuy vậy kết quả đã chỉ ra rằng tất cả các khung thông tin của những nhóm hoạt động xã hội này cung cấp đều không tạo ra hiệu quả bởi họ không nắm trong tay các phương tiện truyền thông có đủ sức mạnh để “đóng khung” thông tin cho người dân, trong khi những nhà hoạt động cần phải sử dụng tất cả các nguồn tin để kết nối và vận động cử tri thì chính phủ chỉ cần một vài tin, bài đã được “đóng khung” trên báo chí nhưng lại tạo ra sức lan tỏa lớn hơn. Tựu chung lại, các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra phương thức “đóng khung” tin tức trong các cuộc vận động có một vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng dư luận xã hội, cũng như tạo ra sự nhận biết cho công chúng về một vấn đề cụ thể. Trong đó, báo chí đóng vai trò là một phương tiện truyền thông quan trọng, người làm báo chính là người quyết định “khung” thông tin đó sẽ được nói như thế nào trước công chúng. Đây cũng là hướng nghiên cứu về phương thức truyền thông được sử dụng khá phổ biến trên thế giới, do đó việc kế thừa các kết quả cũng như phương pháp nghiên cứu này để soi chiếu vào bối cảnh truyền thông Việt Nam trong cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một cách làm không mới nhưng có thể thực hiện được.
Nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, báo chí đóng một vai trò quan trọng trong công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này trong lĩnh vực báo chí truyền thông, có tính thống nhất cao về một số quan điểm như: Nhiệm vụ thông tin trên báo chí cách mạng Việt Nam là thông tin có chức năng định hướng, giáo dục chính trị, tư tưởng, thực chất là tuyên truyền và bảo vệ hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, cụ thể là giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, báo chí cũng mang đường lối, chủ 20 trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân để tạo nên các phong trào, các hành động cách mạng mạnh mẽ. Khi phân tích nội dung tin, bài về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên 2 tờ báo Tuổi trẻ và báo điện tử Đảng Cộng sản, tác giả Vũ Thị Sáng [61] đã chỉ ra những ưu điểm mà báo chí đã làm được như: báo chí là kênh tuyên truyền quan trong nhất, các chuyên mục về nội dung này được duy trì với số lượng tin, bài đều đặn.
Bên cạnh đó, những thông tin được đăng tải ít nhiều đã tác động đến thái độ, nhận thức của đại đa số bộ phận người đọc, nhiều bài báo tạo được những ấn tượng tốt, khơi gợi nên tinh thần học tập, làm theo nội dung cuộc vận động trong toàn xã hội. Tuy nhiên, những mặt hạn chế cũng được tác giả đưa ra với 3 vấn đề lớn: thông tin về cuộc vận động chưa được các cơ quan báo chí chú ý đúng mức, việc tin bài phân bố không đồng đều có thể khiến người đọc quên mất cuộc vận động do thiếu thông tin, ảnh hưởng lớn đến phong trào chung và nội dung tin bài nhiều lúc quá rườm rà, dài dòng, các bài viết nhiều khi chưa được đầu tư kỹ càng mà chỉ nhằm phục vụ mục đích “thông tin cho có”, chính vì vậy không tạo được sức hấp dẫn nơi công chúng. Đi sâu hơn vào phân tích một nội dung cụ thể của cuộc vận động này là “Tuyên truyền điển hình tiên tiến làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trên báo điện tử ở nước ta hiện nay” tác giả Phạm Văn Cường [9] chỉ ra bên cạnh những mặt tích cực như: sự đa dạng hóa về hình thức và nội dung đều rất chú ý đến tính khách quan, cũng như thể hiện sự gần gũi của nhân vật, thông qua những tấm gương điển hình tiên tiến được phản ánh mà công chúng dần dần tiếp thu các giá trị nội dung của cuộc vận động mà không có cảm giác bị ép buộc, dẫn tới việc thay đổi nhận thức một cách từ từ và chắc chắn. Những vấn đề tồn tại cũng được tác giả đề cập khá cụ thể: công tác tuyên truyền chưa được thường xuyên, liên tục.
Nội dung tuyên truyền chưa được cân đối và toàn diện, hình thức còn đơn điệu, cứng nhắc, chậm đổi mới và thiếu sáng tạo. Tình trạng một 21 số cơ quan báo mạng chạy theo lợi nhuận thuần túy “ăn theo” CVĐ, chạy đua xuất bản các tin, bài chất lượng thấp, bài viết không phản ánh được những kết quả thực sự. Nội dung về CVĐ còn có chỗ trùng lặp, một số bài viết về vấn đề này còn dài, khó đọc, độc giả không thể cụ thể hóa những thông tin đó để có những hành động làm theo. Từ đó, nghiên cứu cũng rút ra một nguyên nhân chính nằm ở một số cán bộ, phóng viên, nhà báo còn thiếu chủ động, sáng tạo để thực hiện các bài viết có chất lượng, các cơ quan báo chí chưa thấy hết được vai trò rất quan trọng của công tác tuyên truyền thực hiện CVĐ.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu trên lĩnh vực báo chí về những hoạt động vận động xã hội khác như xây dựng nông thôn mới, nâng cao nhận thức về pháp luật, phát triển bền vững tại địa phương.Tiêu biểu, có thể kể đến như công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thơm [70] về công tác tuyên truyền mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên kênh phát thanh VOV1 của Đài tiếng nói Việt Nam, trên loại hình báo chí này nội dung tuyên truyền đều có kết cấu khung chương trình gồm 3 phần: Nội dung , Âm nhạc , Lời dẫn. Kết quả cũng chỉ ra nội dung của một số chương trình trên VOV1 tuyên truyền về nông thôn mới còn đơn giản, chung chung. Tin bài chưa sâu, nặng về hội nghị, hội thảo, lễ tân.