Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. Khái quát chung về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân Ngày 13/9/1945, Chủ tịch chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký ban hành Sắc lệnh số 33-C thiết lập các Tòa án quân sự, đánh dấu sự ra đời của ngành Tòa án Việt Nam. Các Tòa án quân sự được thành lập theo Sắc lệnh số 33-C chỉ được xét xử người có hành vi làm phương hại đến nền độc lập của nước ta (các tội xâm phạm an ninh quốc gia), còn các hành vi vi phạm vào các tội không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cố ý gây thương tích…, các tranh chấp dân sự, các việc về hôn nhân và gia đình thì Chính phủ chưa quy định cơ quan nào giải quyết, mà các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình và các vụ việc hình sự không phải về xâm phạm an ninh quốc gia đã phát sinh nhiều trong đời sống xã hội. Để giải quyết yêu cầu trên của xã hội, ngày 24/01/1946 Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 13 về tổ chức Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh và tổ chức ngạch Thẩm phán để giải quyết vụ việc dân sự, vụ việc hình sự không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia.
Trải qua gần 75 năm xây dựng và phát triển, hệ thống TAND có bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức, được đánh dấu bằng các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa án lần lượt được ban hành, đó là Luật tổ chức TAND năm 1960, Luật tổ chức TAND năm 1981 (sửa đổi, bổ sung năm 1988), Luật tổ chức TAND năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 1993 và 1995), Luật tổ chức TAND năm 2002. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005“về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, trong đó đề ra nhiệm vụ đổi mới tổ 6 luan an chức và hoạt động của TAND. Kết luận số 79-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 28/7/2010, ban hành “về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, thể hiện sự quyết tâm chính trị cao về Chiến lược cải cách tư pháp. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ tại Điều 102: “TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
Điều này cũng thể hiện sự cụ thể hóa các Nghị quyết nếu trêu của Đảng. Cùng với nguyên tắc độc lập xét xử; nguyên tắc suy đoán vô tội; chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo; Hiến pháp năm 2013 còn quy định cụ thể nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (khoản 5 Điều 103); TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo về chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Ngày 24/11/2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật tổ chức TAND số 62/2014/QH13; Chủ tịch nước ký Lệnh số 22/2014/L-CTN ngày 04/12/2014 công bố Luật tổ chức TAND. Luật tổ chức TAND là một trong những đạo luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước được Quốc hội thông qua theo tinh thần Hiến pháp mới.
Luật tổ chức TAND thể chế hóa các quan điểm lớn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về quyền tư pháp. Về chức năng, nhiệm vụ của TAND, trên cơ sở cụ thể hóa quy định tại Điều 102 của Hiến pháp năm 2013, Luật quy định TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Về tổ chức TAND, Luật đã thể chế hóa nội dung của Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW và Kết luận số 92-KL/TW 7 luan an của Bộ Chính trị về tổ chức Tòa án 4 cấp và cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 102 của Hiến pháp, theo đó Tòa án gồm có: TAND tối cao; các TAND cấp cao; các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương. Đặc biệt, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức TAND năm 2014, việc bổ nhiệm Thẩm phán TAND tối cao có nhiều thay đổi: Từ số lượng 120 Thẩm phán TAND tối cao theo Luật cũ, theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 rút xuống chỉ còn 13 đến 17 người.
Quy trình bổ nhiệm cũng có thay đổi cơ bản: Sau khi Hội đồng tuyển chọn và giám sát Thẩm phán quốc gia tuyển chọn và lên danh sách, trải qua quy trình lấy phiếu tín nhiệm ở nhiều cấp, sau đó trình Quốc hội phê chuẩn. Căn cứ vào Nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội, Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán mới trình Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Tòa án nhân dân tối cao Nhiệm vụ, quyền hạn của TAND tối cao được quy định theo hướng cụ thể hóa quy định tại Điều 104 của Hiến pháp, đồng thời kế thừa các quy định của Luật tổ chức TAND năm 2002 còn phù hợp và đang phát huy hiệu quả. Theo đó, TAND tối cao chỉ thực hiện nhiệm vụ giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác; xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm; tổng kết thực tiễn xét xử; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; quản lý các Toà án về tổ chức (quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.); xây dựng pháp luật theo sự phân công của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; đồng thời, bổ sung nhiệm vụ đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác của Tòa án.
Về cơ cấu tổ chức của TAND tối cao, Luật quy định việc đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tối cao theo hướng tinh gọn với Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có từ 13 đến 17 Thẩm phán TAND tối cao. Để khắc phục những tồn tại, bất cập trong việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, 8 luan an hoạt động xét xử của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao được đổi mới theo hướng có Hội đồng xét xử gồm 5 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Thẩm phán TAND tối cao theo quy định tại Điều 23 Luật tổ chức TAND năm 2014. Tòa án nhân dân cấp cao Thể chế hoá nội dung của Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 79- KL/TW của Bộ Chính trị về TAND cấp cao Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định TAND cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án thuộc địa hạt tư pháp đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị. Về cơ cấu tổ chức, TAND cấp cao gồm Uỷ ban Thẩm phán (gồm Chánh án, các Phó Chánh án là Thẩm phán cao cấp và một số Thẩm phán cao cấp do Chánh án TAND tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án TAND cấp cao), các Tòa chuyên trách và bộ máy giúp việc; trong đó các Toà chuyên trách xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật có kháng cáo, kháng nghị; Uỷ ban Thẩm phán giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị bằng Hội đồng 3 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp cao theo quy định của pháp luật tố tụng.
Về các Tòa chuyên trách của TAND cấp cao, bên cạnh các loại Tòa chuyên trách hiện có trong cơ cấu tổ chức của TAND như Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa hình sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định thêm Tòa GĐ&NCTN để giải quyết các vụ việc có liên quan đến người chưa thành niên. Trường hợp cần thành lập thêm Tòa chuyên trách khác trong TAND cấp cao thì Chánh án TAND tối cao đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. 9 luan an Ngày 28/5/2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 957/NQ-UBTVQH13 thành lập 03 TAND cấp cao: - TAND cấp cao tại Hà Nội: Phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp cao tại Hà Nội đối với 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, Hòa Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Quảng Ninh, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Bình và Hà Tĩnh. - TAND cấp cao tại Đà Nẵng: Phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp cao tại Đà Nẵng đối với 12 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, gồm: Đà Nẵng, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Gia Lai, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum và Đắk Lắk.
- TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với 23 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Long An, Tây Ninh, Đắk Nông, Lâm Đồng, Hậu Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bạc Liêu, Cà Mau, Ninh Thuận, An Giang và Kiên Giang.