Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống cơ quan nhà nước, quyền lực nhà nước được phân công cho các cơ quan thực hiện các chức năng cụ thể, trong đó cơ quan Tòa án giữ vai trò cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Để Tòa án thực hiện đúng chức năng của mình, pháp luật quy định thẩm quyền của Tòa án dưới ba góc độ: thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp xét xử và thẩm quyền theo lãnh thổ. Trong đó, thẩm quyền theo lãnh thổ giải quyết mối tương quan giữa việc tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án giải quyết vụ việc và việc bảo đảm quyền tham gia tố tụng, quyền thỏa thuận, định đoạt của các đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã kế thừa và hoàn thiện các quy định từ BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu để bảo đảm việc áp dụng thống nhất.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Duy Khánh (chuyên ngành Pháp luật Quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023, do ThS. Vũ Hoàng Anh hướng dẫn) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Tìm hiểu các quan điểm, học thuyết của các nhà nghiên cứu liên quan đến thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án; xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về thẩm quyền của Tòa án nói chung và thẩm quyền theo lãnh thổ nói riêng.
  2. Nêu và làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật về thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án; rà soát toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành nhằm đánh giá thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về vấn đề này.
  3. Khảo sát các tranh chấp dân sự và quyết định của Tòa án thông qua hồ sơ, tài liệu thực tế tại Tòa án nhân dân (TAND) quận Thanh Xuân (Hà Nội) nhằm đánh giá thực trạng áp dụng; chỉ ra kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận, học thuyết về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ đối với tranh chấp dân sự; hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam trong BLTTDS năm 2015 (có đối chiếu với BLTTDS năm 2004 sửa đổi năm 2011); thực tiễn áp dụng pháp luật tại TAND quận Thanh Xuân và nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Về nội dung: Khóa luận chỉ tập trung vào thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án đối với các tranh chấp dân sự; không nghiên cứu thẩm quyền dưới khía cạnh "quyền hạn" (quyền ban hành bản án, quyết định) và không nghiên cứu thẩm quyền giải quyết việc dân sự.
  • Về văn bản: Tập trung vào BLTTDS năm 2015 trong sự so sánh, đối chiếu với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
  • Về không gian và thời gian: Khảo sát hoạt động áp dụng pháp luật tại TAND quận Thanh Xuân (Hà Nội) trong khoảng thời gian từ khi các quy định của BLTTDS năm 2004 cho đến BLTTDS năm 2015 có hiệu lực và đi vào thực tiễn (trọng tâm là số liệu công tác năm 2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Khái niệm thẩm quyền (nguồn gốc từ tiếng Latin "compotentia" theo nghĩa thẩm quyền pháp lý), thẩm quyền của Tòa án, thẩm quyền dân sự sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ.
  • Khái niệm lãnh thổ (tiếng Latin "Terra") và tranh chấp dân sự (phát sinh từ quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân theo Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2015).
  • Các nguyên tắc pháp lý cổ điển từ tục dao Latinh: "Actor sequitur forum rei sitae" (nguyên đơn kiện bị đơn tại Tòa án nơi có vật tranh chấp tọa lạc) và "Actor sequitur forum rei" (nguyên đơn kiện bị đơn tại Tòa án nơi bị đơn cư trú/ngụ cư).
  • Năm cơ sở khoa học để thiết lập thẩm quyền theo lãnh thổ: bảo đảm sự thuận lợi khi giải quyết và thi hành án dân sự; bảo đảm giải quyết đúng đắn, khách quan, công bằng; bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự; bảo đảm phù hợp với tính chất của từng loại quan hệ pháp luật tranh chấp; thể chế hóa đường lối của Đảng về cải cách tư pháp.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu định hướng được sử dụng gồm:

  • BLTTDS năm 2015 (các Điều 26, 28, 30, 32, 35, 39, 40, 84, 192) và BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 40, các Điều 41 đến 45, Điều 79, Điều 107).
  • Luật Cư trú năm 2006 và Luật Cư trú năm 2020 (Điều 11, Điều 12).
  • Các nghị quyết và chỉ thị tư pháp: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII; Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Chỉ thị số 04/2017/CT-CA của Chánh án TANDTC; Công văn số 212/TANDTC-PC năm 2019 của TANDTC; Công văn số 305/CV-TKT ngày 02/4/2007 của TAND thành phố Hà Nội; Thông tư số 03/NCLP ngày 03/3/1966 của TANDTC.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm và đường lối cải cách tư pháp của Đảng.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp lịch sử (nghiên cứu sự hình thành quy định thẩm quyền từ văn bản Bắc kì pháp viện biên chế năm 1921 đến nay); phương pháp phân tích và bình luận; phương pháp so sánh luật học (đối chiếu các giai đoạn lập pháp); phương pháp diễn dịch, quy nạp và tổng hợp.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo công tác năm 2022 của TAND quận Thanh Xuân, hồ sơ các vụ án thực tế (như Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 500/2022/HNGĐ-ST, Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2017/DSST) cùng các công trình nghiên cứu của các học giả (Lê Thị Hà, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Kim Thịnh, Đỗ Hoài Anh, Nguyễn Hải Yến, Nguyễn Cảnh Vinh, Nguyễn Thị Hồng, Đinh Đức Công).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án đối với các tranh chấp dân sự

Chương này tập trung xác định nội hàm khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nền tảng lý luận của chế định thẩm quyền theo lãnh thổ:

  • Định nghĩa: Thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án trong giải quyết các vụ án dân sự là quyền của Tòa án trong việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và quyền hạn ra bản án, quyết định theo phạm vi lãnh thổ được xác định dựa trên nơi cư trú, nơi làm việc, trụ sở của đương sự, nơi có tài sản tranh chấp, nơi phát sinh sự kiện pháp lý hoặc các dấu hiệu khác do luật định.
  • Bốn đặc điểm cơ bản:
    1. Ở cấp sơ thẩm, đây là căn cứ đầu tiên để Tòa án thụ lý dựa trên các yếu tố gắn liền với địa hạt (nơi cư trú, làm việc, trụ sở, nơi có tài sản, nơi phát sinh sự kiện).
    2. Có tính cụ thể, xác định chính xác một Tòa án có thẩm quyền giải quyết, tránh việc chuyển đơn lòng vòng gây tốn kém thời gian, chi phí.
    3. Là bước xác định sau cùng (chốt chặn) sau khi đã xác định thẩm quyền theo loại việc và thẩm quyền theo cấp xét xử.
    4. Thực hiện chức năng phân định thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp trên phạm vi toàn quốc.
  • Cơ sở khoa học: Tác giả luận giải 5 cơ sở khoa học để xây dựng chế định, nhấn mạnh sự cân bằng giữa sự thuận tiện cho cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự với việc bảo vệ quyền tiếp cận công lý, quyền tự định đoạt của đương sự và yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 27-NQ/TW.

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền theo lãnh thổ đối với các tranh chấp dân sự

Chương này phân tích chi tiết các nhóm quy tắc phân định thẩm quyền trong BLTTDS năm 2015:

  • Tranh chấp có đối tượng là bất động sản (điểm c khoản 1 Điều 39): Tác giả phân tích điểm mới của BLTTDS năm 2015 khi thay đổi thuật ngữ "tranh chấp về bất động sản" của BLTTDS năm 2004 thành "đối tượng tranh chấp là bất động sản". Sự thay đổi này nhằm giới hạn thẩm quyền độc quyền của Tòa án nơi có bất động sản vào các tranh chấp có đối tượng chính tác động trực tiếp đến bất động sản (như tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới liền kề, lối đi chung), loại trừ các tranh chấp về quyền tài sản thuần túy liên quan đến bất động sản. Đối với quan hệ hôn nhân gia đình có tài sản là bất động sản:
    • Ly hôn có yêu cầu chia tài sản là bất động sản: Quan hệ chính vẫn là hôn nhân nên thẩm quyền thuộc Tòa án theo điểm a, b khoản 1 Điều 39 (nơi cư trú của bị đơn hoặc nơi các bên thỏa thuận), không áp dụng điểm c.
    • Chia tài sản chung là bất động sản sau khi ly hôn: Căn cứ khoản 7 Mục III Công văn số 212/TANDTC-PC năm 2019, tranh chấp này vẫn là tranh chấp hôn nhân gia đình (theo Điều 28 BLTTDS), do đó thẩm quyền thuộc Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (điểm a khoản 1 Điều 39).
  • Tranh chấp theo sự lựa chọn của nguyên đơn (Điều 40): Áp dụng trong các trường hợp bảo vệ bên yếu thế hoặc khi quy tắc chung không thể thực hiện (không rõ nơi cư trú của bị đơn, bị đơn không có nơi cư trú tại Việt Nam, tranh chấp cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tranh chấp lao động, tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh theo Điều 84 BLTTDS, hoặc tranh chấp có nhiều bị đơn/nhiều bất động sản ở các địa phương khác nhau).
  • Tranh chấp theo nơi cư trú, làm việc, có trụ sở của bị đơn (điểm a khoản 1 Điều 39): Phân tích nguyên tắc bình đẳng tố tụng nhằm cân bằng thế chủ động của nguyên đơn với quyền phòng vệ của bị đơn. Đồng thời, tác giả chỉ ra các khoảng trống pháp lý:
    • Khái niệm "nơi cư trú" và "nơi làm việc" chưa có sự phân định thứ tự ưu tiên khi cá nhân có nơi cư trú và nơi làm việc ở hai địa hạt khác nhau.
    • Sự thiếu thống nhất giữa quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Cư trú năm 2006, 2020 dẫn đến tình trạng các Tòa án đùn đẩy thụ lý giữa nơi thường trú và nơi tạm trú.
    • Trường hợp pháp nhân có trụ sở đăng ký kinh doanh một nơi nhưng hoạt động thực tế tại nơi khác, tác giả viện dẫn Công văn số 305/CV-TKT ngày 02/4/2007 của TAND thành phố Hà Nội và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP để xác định thẩm quyền theo trụ sở ghi trong đăng ký kinh doanh.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền theo lãnh thổ tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chương này đánh giá toàn diện tình hình thụ lý, giải quyết án tại TAND quận Thanh Xuân trong năm 2022 và tổng kết các vướng mắc thực tiễn:

  • Đánh giá thực trạng công tác chuyên môn: Năm 2022, số lượng thụ lý tăng gần 6% so với năm trước do ảnh hưởng của dịch bệnh và biến động kinh tế - xã hội. Tổng số thụ lý là 1.452 vụ việc (1.202 vụ việc mới, 250 vụ việc cũ); đã giải quyết, xét xử 1.294 vụ việc, đạt tỷ lệ 89,12%; còn tồn 158 vụ việc (37 vụ tạm đình chỉ, 8 vụ quá hạn); tỷ lệ án hủy do lỗi chủ quan của thẩm phán là 01 vụ (tỷ lệ 0,07%).
  • Áp dụng Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (từ 01/4/2021 đến 30/9/2022): Thụ lý 293 đơn, giải quyết 226/338 vụ việc (tính cả số cũ chuyển sang), đạt tỷ lệ 66,86%, trong đó hòa giải thành 12 vụ (tỷ lệ 5,31%).

Số liệu phân loại các nhóm vụ việc dân sự tại TAND quận Thanh Xuân năm 2022 được tổng hợp theo bảng sau:

STT Loại vụ án Thụ lý (vụ) Giải quyết (vụ) Tỷ lệ giải quyết (%) Số vụ hòa giải thành Ghi chú về quan hệ tranh chấp chủ yếu
1 Dân sự 200 135 67,50% 78 Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng; 01 vụ bị hủy do lỗi chủ quan.
2 Hôn nhân và gia đình 762 751 97,13% 678 Không có án bị sửa, hủy do lỗi chủ quan.
3 Kinh doanh thương mại 187 105 56,15% 50 Hợp đồng tín dụng, hợp đồng kinh tế.
4 Lao động 4 4 100,00% 2 Tranh chấp tiền lương, chấm dứt hợp đồng lao động.
Tổng Các vụ việc 1.153 995 86,29% 808
  • Những bất cập, vướng mắc thực tiễn tại TAND quận Thanh Xuân:
    • Khó khăn trong việc xác minh nơi cư trú của bị đơn khi bị đơn cố tình che giấu địa chỉ. Điển hình là vụ án ly hôn thụ lý số 271/2022/TLST-HNGĐ (Bản án số 500/2022/HNGĐ-ST) giữa anh Lại Trung H và chị Vũ Hiền A: Bị đơn có đăng ký thường trú tại ngách 320/5/16 đường Khương Đình, phường H, quận Thanh Xuân nhưng trên thực tế đã bỏ đi nơi khác sinh sống, cắt đứt liên lạc trực tiếp, khiến Tòa án phải mất nhiều thời gian xác minh tại công an phường.
    • Lúng túng trong xác định thẩm quyền khi bị đơn là người đang chấp hành hình phạt tù tại các trại giam.
  • Bảy kiến nghị hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất (mục 3.2):
    1. Cụ thể hóa đối tượng của tranh chấp là bất động sản tại điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.
    2. Cụ thể hóa quy định về thẩm quyền của Tòa án nơi cư trú, làm việc của bị đơn là cá nhân, trụ sở của pháp nhân.
    3. Xây dựng quy định về thứ tự ưu tiên của các tiêu chí lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ.
    4. Quy định thêm điều kiện để lựa chọn Tòa án giải quyết trong trường hợp có nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền.
    5. Quy định xác định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án trong trường hợp cần sự chuyển hóa vụ việc.
    6. Bổ sung các quy định về quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án giữa các đương sự theo hướng hợp lý và đầy đủ hơn.
    7. Bổ sung quy định về thẩm quyền dân sự sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ đối với các tranh chấp về thừa kế.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã phản ánh trung thực kết quả xét xử và áp dụng pháp luật của TAND quận Thanh Xuân trong năm 2022 với 1.294/1.452 vụ việc được giải quyết (đạt 89,12%), công khai 498 bản án, hạn chế tối đa án quá hạn và tạm đình chỉ không căn cứ, thực hiện hòa giải thành 808/995 vụ việc dân sự, hôn nhân, thương mại, lao động. Về mặt khoa học pháp lý, tác giả đã:

  • Hệ thống hóa các quan điểm lý luận về thẩm quyền theo lãnh thổ, phân biệt rõ thẩm quyền theo lãnh thổ với thẩm quyền theo loại việc và thẩm quyền theo cấp xét xử.
  • Chỉ ra các điểm cải tiến và bất cập tồn tại giữa BLTTDS năm 2004 (sửa đổi năm 2011) và BLTTDS năm 2015, đặc biệt là việc chuyển đổi khái niệm "tranh chấp về bất động sản" sang "đối tượng tranh chấp là bất động sản".
  • Đề xuất giải pháp phân định ba cấp độ ưu tiên khi xác định nơi cư trú của bị đơn cá nhân: (1) Nơi bị đơn thường trú; (2) Nơi bị đơn tạm trú; (3) Nơi bị đơn đang thực tế sinh sống hoặc làm việc, nhằm giải quyết triệt để tình trạng đùn đẩy án giữa các Tòa án cùng cấp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, đề tài nằm trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học nên giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các tranh chấp dân sự (vụ án dân sự), chưa mở rộng sang việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ đối với các việc dân sự (yêu cầu dân sự). Bên cạnh đó, dữ liệu thực tiễn chủ yếu tập trung khảo sát tại một đơn vị hành chính cấp huyện cụ thể là TAND quận Thanh Xuân (Hà Nội) với các tranh chấp đặc thù của đô thị lớn, chưa bao quát các dạng tranh chấp tại các địa bàn nông thôn hoặc miền núi.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thẩm quyền theo lãnh thổ đối với việc giải quyết các việc dân sự theo BLTTDS năm 2015, hoặc so sánh thực tiễn áp dụng giữa Tòa án tại các đô thị đặc biệt với các Tòa án nhân dân cấp huyện ở vùng sâu, vùng xa để hoàn thiện cơ chế ủy thác tư pháp và chuyển giao tài liệu tố tụng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, cũng như những người nghiên cứu các đề tài về thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện. Những nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm:

  • Phần phân tích học thuật và dẫn chiếu văn bản nghiệp vụ giải quyết các xung đột thẩm quyền về tranh chấp bất động sản, chia tài sản chung sau ly hôn (vận dụng Công văn số 212/TANDTC-PC năm 2019).
  • Hướng dẫn xử lý trường hợp doanh nghiệp có địa chỉ đăng ký kinh doanh khác địa chỉ hoạt động thực tế (theo Công văn số 305/CV-TKT của TAND thành phố Hà Nội và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP).
  • Hệ thống số liệu thống kê chi tiết các vụ việc dân sự năm 2022 và phân tích hồ sơ vụ án ly hôn thực tế tại TAND quận Thanh Xuân.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt giữa BLTTDS năm 2015 và BLTTDS năm 2004 về thẩm quyền đối với bất động sản là gì?

BLTTDS năm 2004 quy định Tòa án nơi có bất động sản giải quyết "những tranh chấp về bất động sản". Điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 điều chỉnh thành "đối tượng tranh chấp là bất động sản". Sự thay đổi này thu hẹp và xác định rõ thẩm quyền độc quyền của Tòa án nơi có bất động sản chỉ áp dụng khi đối tượng tranh chấp chính tác động trực tiếp đến bất động sản (như quyền sử dụng đất, lối đi, ranh giới), không áp dụng bao trùm lên các tranh chấp về quyền tài sản thuần túy liên quan đến bất động sản.

Tranh chấp chia tài sản là bất động sản sau khi ly hôn do Tòa án nào giải quyết?

Căn cứ khoản 7 Mục III Công văn số 212/TANDTC-PC năm 2019 của TANDTC, dù hôn nhân đã chấm dứt nhưng việc chia tài sản sau ly hôn vẫn mang bản chất là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 BLTTDS năm 2015. Do đó, thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định theo điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 (thuộc về Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc), chứ không thuộc về Tòa án nơi có bất động sản theo điểm c.

Nguyên đơn có thể khởi kiện tại Tòa án nơi có chi nhánh của bị đơn không?

Có. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 40 và Điều 84 BLTTDS năm 2015, nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có quyền lựa chọn yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở chính hoặc Tòa án nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết để tạo sự thuận lợi tối đa cho người khởi kiện.

Vụ án thực tế nào tại TAND quận Thanh Xuân phản ánh khó khăn khi xác định nơi cư trú của bị đơn?

Bản án số 500/2022/HNGĐ-ST ngày 03/6/2022 về vụ án ly hôn giữa anh Lại Trung H và chị Vũ Hiền A. Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường H, quận Thanh Xuân nhưng thực tế đã chuyển đi nơi khác sinh sống và không thông báo địa chỉ mới. Dù TAND quận Thanh Xuân thụ lý đúng thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án vẫn phải tiến hành thêm các thủ tục xác minh phức tạp tại công an phường do tình trạng đương sự cố tình che giấu nơi cư trú.

Tác giả đề xuất phân định thứ tự ưu tiên nơi cư trú của bị đơn cá nhân như thế nào?

Để khắc phục tình trạng các Tòa án đùn đẩy trách nhiệm thụ lý, tác giả đề xuất văn bản giải thích pháp luật phân định thứ tự ưu tiên theo 3 cấp độ:

  1. Tòa án nơi bị đơn đăng ký thường trú và sinh sống ổn định;
  2. Tòa án nơi bị đơn đăng ký tạm trú;
  3. Tòa án nơi bị đơn đang thực tế sinh sống hoặc làm việc.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Bùi Duy Khánh đã làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng và cơ sở khoa học của chế định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng các quy định của BLTTDS năm 2015 kết hợp với số liệu thực tế tại TAND quận Thanh Xuân năm 2022, tác giả đã chỉ rõ những điểm vướng mắc về xác định nơi cư trú của bị đơn và tranh chấp có yếu tố bất động sản. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được xây dựng có tính kế thừa, xuất phát trực tiếp từ thực tiễn xét xử, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng dân sự và bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân.