CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THÂM QUYEN THEO LANH THO CUA TOA AN DOI VOI CAC TRANH CHAP DAN SU 1. KHAI NIEM THAM QUYEN THEO LANH THO CUA TOA AN DOI VOI CAC TRANH CHAP DAN SU Xác định thâm quyén giải quyết vu án của Tòa án là một trong những yêu cầu quan trọng của việc kiểm tra điều kiện thụ lý và giải quyết các tranh chấp dân sự. Ngoài việc xác định rõ thẩm quyền của Tòa án theo loại việc, theo cấp xét xử, theo sự lựa chọn của nguyên đơn, thâm quyên giải quyết vụ án trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng thì việc xác định TQTLT là việc làm rất quan trọng. Trước hết, cần làm rõ các khái niệm cấu thành bao gồm: khái niệm về thâm quyền của Tòa án, khái niệm tranh châp dân sự, khái niệm lãnh thô.
Về khái niệm thâm quyền của Tòa án, thuật ngữ “thẩm quyền” theo nghĩa nguyên thủy có lich sử bắt nguồn từ tiếng La tinh là "compotentia", gồm có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất thể hiện phạm vi các quyền hạn của các cơ quan người có chức vụ nào đó; Nghĩa thứ hai là phạm vi những kiến thức, kinh nghiệm mà ai đó có. Ý nghĩa thứ nhất trong khoa học pháp lý va quản lí thường được hiểu băng thuật ngữ “thâm quyền pháp lý”. Ý nghĩa thứ hai được hiểu là “thâm quyền chuyên môn”Š. Trong phạm vi của khóa luận, nội dung sẽ tập trung trình bày thâm quyền với ý nghĩa là thâm quyền pháp lý.
Dưới góc độ một thuật ngữ đơn thuần, Từ điển Tiếng việt định nghĩa “thâm quyền” là quyền xem xét dé kết luận và định đoạt một vấn dé pháp luật”. Theo cách giải nghĩa này, thâm quyền được hiểu là việc một cơ quan Nhà nước được phép tự mình nhìn nhận sự việc và đưa ra ý kiến riêng dé giải quyết van đề một cách phù hợp theo quy định của pháp luật. Từ điển Luật học diễn giải thâm quyền là “tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tô chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định””. Theo cuốn Black’s Law Dictionary thì thẩm quyên là việc đê cập đên một cơ quan công quyên có thê được xem xét và giải quyêt 5 Nguyễn Cửu Việt (2005), “Cai cách hành chính”, Tap chí Nghiên cứu lập pháp, Số: 01/08/2005, tr.
5 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Việt Nam, tr. 7 Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, Việt Nam, tr.
7 một việc gì theo pháp luật khi nó có một khả năng cơ bản và tối thiêuŠ. Nhìn chung, các khái niệm nhắc đến thâm quyên là dé cập tới mối quan hệ gắn chặt với khả năng của cơ quan công quyên khi thực hiện việc xem xét giải quyêt một vân đê nào đó. Nghiên cứu các công trình khoa học pháp lý, ý kiến của tác giả Lê Hoài Nam cho răng: “Thâm quyên là quyền được thực hiện những hành vi pháp lý mà pháp luật giao cho một tổ chức hoặc nhân viên Nhà nước”, còn Tiến sĩ Lê Thi Hà trong luận án “Phân cấp thẩm quyên giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thong Tòa án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” đưa ra khái niệm: “Thâm quyền là tông hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan, tô chức hoặc một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thé trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy nhà nước 10” “Nhu vậy, dù nhìn nhận dưới bat cứ góc độ nào thì khái niệm vê thâm quyên đêu hướng đên việc chỉ ra chức năng, nhiệm vụ va quyên hạn của một cá nhân, tô chức trong việc giải quyết một sự việc theo quy định của pháp luật. Về khái niệm thấm quyền của Tòa án, dựa trên nền tảng chức năng cơ bản của Tòa án là cơ quan xét xử tại một quốc gia, được trao quyền lực nhà nước thực hiện chức năng xét xử.
Dựa vào góc độ cơ cau tô chức thi Tòa án là một co quan nhà nước thuộc bộ máy nhà nước được tô chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, không phân chia, nhưng có sự phân công giữa ba nhóm quyên lập pháp, hành pháp và tư pháp!!. TAND là cơ quan thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, với chức năng xét xử và để thực hiện trơn tru chức năng và nhiệm vụ của mình thì Tòa án cần được xác định cụ thé phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý hay còn được gọi là thầm quyền của cơ quan Tòa án. Nghiên cứu xây dựng khái niệm khoa học về thâm quyền của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi, cách thức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Tòa án. Thâm quyền của Tòa án không chỉ xác định phạm vi công việc cua Tòa án ma còn giới hạn phạm vi những công việc giữa Tòa án với 8 West Publishing Co (2001), Black’s Law Dictionary, US.
? Lê Hoài Nam (1997), Thẩm quyên xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tổ tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Luật Ha Nội, tr. 0 Lê Thi Ha (2005), Phân cấp thẩm quyên giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thong Tòa án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luan an tiên sĩ, Trường Dai học Luật Hà Nội, tr.43 !! Trần Ngọc Đường (2009), “Tìm hiểu nguyên tắc Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyên lập pháp, hành pháp và tư pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Sô: 2/2009, tr. 8 những cơ quan nhà nước khác; thâm quyên của Tòa án còn định ra giới hạn thâm quyên cho các Tòa án các câp đê phân định các loại việc thuộc thâm quyên xét xử. Có quan điểm cho rằng thâm quyền của Tòa án là quyền xét xử, bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, mang tính lịch sử cụ thể quy định quyền xét xử của Tòa án.
Nội dung của nó do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và các điều kiện khác quyết định!?. Đây cũng là một quan điểm học thuật độc đáo nhưng Tòa án qua đó mới chỉ thể hiện được tính xã hội, chưa thể hiện được tính quyền lực nhà nước. Trong khi, thâm quyên của Tòa án tồn tại trên cơ sở quyền lực nhà nước bởi nói đến thẩm quyền là nói đến sự gan bó mật thiết với co quan công quyền, thuộc tính của quyền lực nhà nước. Cũng có quan điểm định nghĩa rộng hơn về thẩm quyền của Tòa án là quyền xét xử những vụ án hình sự, giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu về dân sự; hôn nhân và gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động: giải quyết các vụ án hành chính và giải quyết các vụ việc khác trên cơ sở quyền lực nhà nước và được quy định bởi pháp luật!°.
Theo Tham phán Dao Si Hùng và Tiến sĩ Nguyễn Minh Hang cho rang việc dé cập đến thâm quyền chung về dân sự của Tòa án chính là tổng hợp các loại việc về dan sự mà Tòa án là co quan có thẩm quyền thụ ly và giải quyết theo thủ tục tố tung dân sự '. Dễ dàng nhận thấy, các quan điểm trên đều được xây dựng trên cơ sở những phân tích lý luận về khoa học pháp lý tương đối đầy đủ và hợp lý. Tuy nhiên, dé có được sự thông hiểu thống nhất, có thé tóm gọn lại thấm quyền của Tòa án hay cụ thé là thâm quyền dân sự của Tòa án là “quyên xem xét giải quyết các vụ việc và quyên hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục Tổ tụng dân sự của Toa an” và khi đã căn cứ vào thâm quyên, Tòa án xác định phạm vi quyên hạn của mình trong việc tiêp nhận, giải quyêt những tranh châp dân sự do các chủ thê có quyên yêu câu. Mặt khác, thâm quyên của Tòa án cũng là căn cứ pháp lý đê cá nhân, cơ quan, tô chức được quyên đòi hỏi Tòa án bảo vệ quyên khi bị xâm phạm.
!ˆ Lemeunier (1988), Dictionaire juiridique, La maison du dictionnaire, Paris, tr. '4 Đào Sĩ Hùng - Nguyễn Minh Hang (2012), “Tham quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức”, Tap chí Nghề Luật, Số 2, tr. 'S Trường Dai học Luật Thành phó Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tung Dân sự Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.
Về khái niệm tranh chấp dân sự, Từ điển Tiếng Việt xác định: “Tranh chấp là việc giành nhau một cách giằng co không rõ thuộc về bên nào. Tranh chấp cũng có nghĩa là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên!””. Từ nội hàm khái niệm tranh chấp, có thể hiểu tranh chấp dân sự chính là những xung đột, mâu thuẫn, bất đồng về quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ dân sự (quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản)!Š phát sinh trong các lĩnh vực: Dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình. Xác định quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản.
Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn với một tài sản nhất định được thé hiện dưới dang này hay dạng khac!® còn quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân hay các tô chức”. Tranh chấp dân sự và giải quyết các tranh chấp dân sự hiện nay được xác định và hiểu bắt đầu từ việc nhìn nhận một vụ án dân sự, khi căn cứ vào nội dung tranh chấp về dân sự và được xác định là thuộc thầm quyền giải quyết của Tòa án. Mối liên hệ tương quan giữa thuật ngữ “tranh chấp dân sự” và “vụ án dân sự” là tương đối rõ ràng, không phải tất cả các vụ án dân sự đều là các tranh chấp dân sự nhưng những tranh chấp dân sự sẽ trở thành vụ án dân sự”!, vì thé trong nội dung khóa luận sẽ linh hoạt sử dụng hai thuật ngữ dé phù hợp với ngữ nghĩa và dụng ý sử dụng. Mặt khác, trong thực tiễn xét xử, việc dân sự sẽ được giải quyết theo thủ tục khác với giải quyết vụ án dân sự, vì vậy, khóa luận sẽ không nghiên cứu TQTLT của Tòa án giải quyết việc dân sự, nên những vấn đề liên quan đến việc dân sự không được di sâu nghiên cứu.