Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm, đặc điểm về vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính 1.Khái niệm về vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính. Trước khi đi nghiên cứu khái niệm “vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính” chúng ta cần làm rõ các khái niệm “luật sư”, “tố tụng hành chính”, từ việc nghiên cứu các khái niệm đó sẽ đưa ra khái niệm “vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính” - Khái niệm luật sư Về khái niệm luật sư, theo cách hiểu dân gian thì “Luật” ở đây là luật pháp, còn “sư” nghĩa là thầy, như dân gian vẫn thường gọi là thầy cãi. Mặc dù vậy, hai khái niệm này chỉ đề cập tới một chức năng cụ thể của luật sư, đó là hoạt động tranh tụng, và như vậy thì hai khái niệm này không định nghĩa được một cách khái quát, toàn diện về khái niệm luật sư.
Khác với quan niệm trên, có quan điểm khác lại cho rằng “Luật sư là người hành nghề liên quan đến lĩnh vực pháp luật khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia”. Tuy nhiên, khái niệm này lại quá rộng, chưa đủ nội hàm để phân biệt được luật sư với những chức danh tư pháp khác như kiểm sát viên (công tố viên), thẩm phán,… Cho tới nay, hầu hết pháp luật các nước trên thế giới không đặt ra khái niệm về luật sư mà chỉ quy định các tiêu chuẩn, điều kiện để trở thành một luật sư. Tiêu chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư là: 9 Luan van - Là công dân ở nước sở tại; - Có bằng cử nhân luật; - Có phẩm chất đạo đức tốt. Ở Việt Nam, khái niệm luật sư bắt đầu được đưa vào quy định của pháp luật kể từ Pháp lệnh Luật sư năm 2001.
Theo Điều 1 của Pháp lệnh: “Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật.” Sau đó khi Luật Luật sư 2006 ra đời, khái niệm luật sư vẫn tiếp tục được quy định cụ thể tại Điều 2 như sau: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng).” Điều 10 Luật Luật sư còn bổ sung thêm quy định về tiêu chuẩn của luật sư, đó là: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư”. Theo quy định của Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi bổ sung năm 2012, về khái niệm luật sư có nhiều cách hiểu khác nhau và có thể chia thành ba quan điểm như sau: Thứ nhất, Luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư, nhưng phải thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng. Thứ hai, người đủ tiêu chuẩn theo quy định của Điều 10 Luật Luật sư và được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư là Luật sư. Thứ ba, một người được công nhận là luật sư khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề luật sư, cụ thể là được cấp Chứng chỉ hành nghề và Thẻ luật sư, do đó khi một người được cấp Chứng chỉ hành nghề thì chưa phải là luật sư.
10 Luan van Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về luật sư. Tuy nhiên phải xác định, luật sư là một danh từ chỉ một cá nhân được công nhận khi có đủ các tiêu chuẩn và điều kiện theo luật định. Khi được công nhận luật sư thì người đó có quyền hành nghề luật sư. Chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp là giấy tờ công nhận một người là luật sư.
Qua phân tích quy định pháp luật về luật sư của Việt Nam có thể rút ra khái niệm về luật sư như sau: “Luật sư là những người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện và được hành nghề tuân thủ quy chế đạo đức nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về luật sư nhằm thực hiện các dịch vụ pháp lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cá nhân, tổ chức, bảo vệ công lý, góp phần bảo vệ pháp chế và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. - Khái niệm tố tụng hành chính + Tố tụng: Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Tố tụng là việc thưa kiện tại tòa án” [37, tr. Tuy nhiên theo quan điểm của học viên thì khái niệm về tố tụng như trên là chưa mang tính khái quát và đầy đủ. Theo quan điểm của học viên, tố tụng là cách thức, trình tự và nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án đã được thụ lí hoặc khởi tố theo các quy định của pháp luật Do các vụ việc có tính chất đặc thù khác nhau nên pháp luật quy định các thủ tục tố tụng khác nhau tương ứng.
Thủ tục tố tụng hình sự được quy định áp dụng cho việc giải quyết các vụ án hình sự. Thủ tục tố tụng dân sự được quy định áp dụng cho việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, những tranh chấp kinh doanh thương mại, những tranh chấp về lao động thuột thẩm quyền giải quyết của tòa án. Thủ tục tố tụng hành chính được quy định áp dụng cho việc giải quyết các vụ án hành chính. Theo trình tự thì thủ tục tố tụng phân thành các giai đoạn: Đối với các vụ án hình sự có: Thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Đối với các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động thì có: Thủ tục khởi kiện, thụ lí, lập hồ sơ chuẩn bị xét xử, xét xử, thi hành án.
11 Luan van Các văn bản pháp luật tố tụng bên cạnh việc quy định về các điểm khác biệt của mỗi thủ tục tố tụng, luôn quy định về các vấn đề chung của các vụ án như: Thẩm quyền xét xử của tòa án, nguyên tắc xét xử, thành phần của hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng và quyền, nghĩa vụ của họ, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn. + Hành chính: Theo nghĩa thông dụng nhất, hành chính là hoạt động quản lý. Các hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan hành chính Nhà nước mà cơ quan cao nhất là Chính Phủ nhằm thực hiện các hoạt động chấp hành, điều hành các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam thì: “1.
Hành chính là (Thuộc) sự chỉ đạo, quản lí việc chấp hành luật pháp, chính sách của nhà nước. (Thuộc) những công việc như văn thư, tổ chức, kế toán,…trong cơ quan nhà nước. (Có) tính chất văn bản, giấy tờ, mệnh lệnh, khác với giáo dục, thuyết phục”.305] Theo một định nghĩa khác của Từ diển Tiếng Việt thì: “Hành chính là thuộc phạm vi tổ chức thực thi chính sách pháp luật của nhà nước” [8, tr. Hoạt động tổ chức thực thi chính sách pháp luật của nhà nước chính là hoạt động quản lý hành chính nhà nước (hay còn gọi là hoạt động hành chính nhà nước).
Đây là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước, của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước tác động tới các đối tượng quản lý để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, nhằm bảo đảm chấp hành Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên, tổ chức chỉ đạo mọi hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội. Từ những phân tích trên có thể đi tới khái niệm tố tụng hành chính như sau: “Tố tụng hành chính là tổng thể các hành vi tố tụng được các chủ thể của tố tụng hành chính bao gồm người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện theo tình tự luật định trong quá trình Tòa án nhân dân giải quyết vụ án hành chính, đồng thời qua việc giải quyết các khiếu kiện hành chính mà tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước”.21] 12 Luan van Tố tụng hành chính Việt Nam có những đặc điểm sau: + Là trình tự tố tụng tư pháp được pháp luật điều chỉnh độc lập; + Là trình tự tố tụng được áp dụng để giải quyết các vụ án hành chính mà đối tượng tranh chấp là khiếu kiện hành chính; + Cơ quan giải quyết vụ án hành chính là Tòa án nhân dân; + Có sự tham gia của VKSND; + Vừa tuân thủ các nguyên tắc chung của hoạt động tố tụng được Hiến pháp quy định, vừa tuân thủ các nguyên tắc riêng phù hợp với tính chất của tranh chấp hành chính. 22] - Khái niệm vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính Hiện nay chưa có một nghiên cứu hay quan điểm nào để đưa ra khái niệm về vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính. Tuy nhiên để làm rõ khái niệm này, ngoài việc làm rõ hai khái niệm “Luật sư” và “Tố tụng hành chính” thì cũng phải làm rõ khái niệm về “Vai trò” là gì.
Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội thì: “Vai trò là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, phát triển của cái gì” [31, tr. Còn theo từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Hải Phòng thì: “Vai trò là tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong sự hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức” [8, tr. Tuy nhiên có một số quan điểm cho rằng vai trò có thể được định nghĩa như là một vị trí xã hội, hành vi liên quan đến một vị trí xã hội, hay một hành vi điển hình; vai trò về cơ bản là sự kỳ vọng về cách một cá nhân phải hành xử trong một tình huống nhất định, trong khi những người khác coi nó có nghĩa là làm thế nào các cá nhân thực sự hành xử ở một vị trí xã hội nhất định.