đặt vấn đề là cách thức nào được xem là tốt nhất để tìm ra sự thật. Sự khác nhau giữa các mô hình TTHS tất yếu dẫn đến sự khác nhau, trong đó có sự khác nhau về địa vị pháp lý của các chủ thể và cách thức vận hành các chức năng TTHS, luật sư bào chữa là một trong những chủ thể đó. - Cuốn sách “ Hệ thống pháp luật và luật pháp của Liên Bang Nga” (Law and legal system of the Russian Federation) của William Burnham [129] được viết để giới thiệu cho sinh viên luật, luật sư về các đặc điểm chính của luật pháp và các tổ chức pháp lý của nước Nga ngày nay. Cuốn sách với 14 chương bao gồm hầu hết các lĩnh vực quan trọng của pháp luật Nga, trong đó có các vấn đề về thủ tục tố tụng hình sự (chương XI), luật sư (phần D chương IV), các quyền cá nhân trong đó nổi bật quyền được bảo vệ tư pháp và đối xử bình đẳng (mục D chương VI).
Cuốn sách đã nghiên cứu, phân tích về quyền của luật sư bào chữa trong giải quyết vụ án hình sự, cụ thể tập trung vào các vấn đề: Liệt kê các văn bản pháp luật của các nước cộng hòa thuộc liên bang quy định về quyền của luật sư bào chữa; đưa ra tỷ lệ phần trăm các vụ án hình sự có sự tham gia của luật sư bào chữa từ giai đoạn xét xử; chủ thể nào được đại diện cho bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự…. Nổi bật nên một số quyền của luật sư như: chỉ cần sự thừa nhận của Đoàn luật sư nơi mà luật sư tham gia và có một lệnh từ tổ chức luật sư ủy quyền cho luật sư đại diện nhận bào chữa cho khách hàng; trong giai đoạn điều tra, luật sư bào chữa được quyền có mặt khi người bị tình nghi hoặc bị can đưa ra lời khai trước điều tra viên (thậm chí trước cả giai đoạn đó trong một số trường hợp); quyền thu thập chứng cứ của luật sư bào chữa như hoạt động điều tra độc lập (điểm mới đáng ghi nhận tại Điều 83 BLTTHS Liên bang Nga năm 2001); luật sư có quyền tham gia bào chữa từ thời điểm khách hàng bị bắt trên thực tế; trong giai đoạn xét xử, nếu luật sư bào chữa theo chỉ định không xuất hiện tại phiên tòa thì việc xét xử vụ án phải được hoãn sang thời điểm khác. Bị cáo có thời hạn 05 ngày để lựa chọn người bào chữa mới và nếu người bào chữa mới không thể có mặt thì tòa án chỉ luan an 16 định người bào chữa khác. Cuốn sách này là một tài liệu nghiên cứu tham khảo hữu ích liên quan đến luật sư trong HĐTTHS với tư cách là người bào chữa.
- Bài “Sự thật về việc trở thành một luật sư bào chữa hình sự” (The Truth About Being a Criminal Defense Attorney) [23] của Dylan Thomson von Brendel phỏng vấn hai luật sư bào chữa hình sự có tiếng của Hoa Kỳ là Robert Foley và Dana Kinsella về lý do lựa chọn nghề, những nguy hiểm, nhìn nhận của xã hội cũng như thách thức khi làm luật sư bào chữa hình sự, hai người cũng chia sẻ những trải nghiệm trong hoạt động hành nghề. Cuộc phỏng vấn chân thật và sâu sắc về quan điểm, nhìn nhận của người trong nghề khi trở thành một luật sư bào chữa hình sự trong xã hội Hoa Kỳ, khi ai đó phải đối mặt với một hành vi phạm tội hình sự thì toàn bộ sức nặng của hệ thống tư pháp và nhà nước cùng việc truy tố đang giáng xuống người đó, khi ấy có luật sư bào chữa; luật sư là một phần quan trọng của hệ thống kiểm tra và cân bằng trong thực hiện pháp luật, làm cho mọi thứ hoạt động hiệu quả và hợp pháp, bởi vì nhìn vào thẩm quyền và quyền lực mà cơ quan thực thi pháp luật có, cần có cơ chế để kiềm chế sức mạnh đó, kiểm tra lại công việc của họ, đảm bảo rằng họ tuân theo đúng các quy tắc pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội. Tài liệu tham khảo hữu ích với việc thực hiện phỏng vấn chuyên sâu phục vụ cho đề tài. - Cuốn sách “Cẩm nang luật hình sự - Biết quyền của bạn, tồn tại hệ thống” (The criminal law handbook - Know your right, Survive theo System) [73] của tác giả Paul Bergman và Sara J.
Berman được thiết kế dưới dạng câu hỏi, câu trả lời dễ hiểu và các ví dụ minh họa để giải thích hệ thống tư pháp hình sự, trong và ngoài phòng xử án, giúp người đọc có những kiến thức cơ bản về luật, thủ tục tố tụng hình sự của Hoa Kỳ. Cuốn sách gồm 27 chương, trong đó nội dung về luật sư (bao gồm cả luật sư công, luật sư tư), quyền bào chữa, thủ tục bào chữa, chất vấn tại tòa… tập trung tại các chương 7 (luật sư bào chữa hình sự), chương 8 (tìm hiểu mối quan hệ giữa luật sư và khách luan an 17 hàng trong vụ án hình sự, chương 11 (xây dựng chiến lược bào chữa), chương 14 (trao đổi thông tin với công tố), chương 15 (điều tra các sự kiện), chương 16 (điều trần sơ bộ), chương 17 (quyền cơ bản của bào chữa), chương 18 (quy tắc chứng cứ cơ bản trong các phiên tòa hình sự) đã giải thích quyền có luật sư, sự khác biệt giữa luật sư công và luật sư tư, sự giữ bí mật của luật sư với khách hàng, diễn giải, minh họa các thủ tục tố tụng có sự tham gia của luật sư trong quá trình bào chữa cho khách hàng, đồng thời cũng chỉ ra điểm khác biệt giữa luật Liên bang với luật của các bang về các nội dung liên quan đến vấn đề này. - Trong cuốn La bàn đạo đức của luật sư Hoa Kỳ: Sự thật, Công lý, Quyền lực và Lòng tham (The Moral Compass of the American Lawyer: Truth, Justice, Power, and Greed) [89], Richard Zitrin và Carol M. Langford cố gắng giải thích đạo đức pháp lý cho những người không phải là luật sư.
Trong khi họ cung cấp một sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ thống công lý Mỹ, họ cũng lưu ý những thảm họa đạo đức gây ra bởi sự thái quá của quá trình đối nghịch. Các luật sư không được trả tiền để bảo vệ "Sự thật, Công lý và Con đường Mỹ", các tác giả lưu ý; họ được trả tiền để bảo vệ khách hàng của họ, và nghĩa vụ của sự vận động nhiệt tình đôi khi thúc đẩy các luật sư làm việc bên lề của sự chính trực. Một số luật sư đứng trên đường lối đạo đức, hoặc bỏ qua lại với sự trừng phạt; những người khác lặn dài qua rìa và không bao giờ quay trở lại. Khách hàng muốn thuê luật sư thành công, tất nhiên, và luật sư thành công thường là những người sẵn sàng bỏ qua ranh giới của trách nhiệm nghề nghiệp.
Đạo đức của nghề nghiệp dường như được xác định bởi bất cứ điều gì khó khăn nhất có thể thoát khỏi. Các luật sư chân chính sẽ đi đến tận cùng của sự thật và sẵn sàng chịu đựng những mũi dùi của dư luận khi bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Một tổng quan sâu rộng về những tình huống khó xử về đạo đức phải đối mặt với mọi luật sư của nghề luật mỗi ngày - cho dù họ là luật sư bào chữa hình sự, luật sư tư, luật sư nội bộ công ty. luan an 18 Các tác giả cũng đưa ra một đánh giá thẳng thắn về những thiếu sót của toàn bộ hệ thống tư pháp Hoa Kỳ, từ các trường luật đến phòng xử án, và những gì có thể được thực hiện để khắc phục tình hình.
Một tài liệu tham khảo hay về khía cạnh đề cao đạo đực hành nghề luật sư đối với luận án. - Báo cáo “Quyền trong thực tế: tiếp cận với luật sư và quyền tố tụng trong tố tụng hình sự và lệnh bắt giữ ở châu Âu” (Rights in practice: access to a lawyer and procedural rights in criminal and European arrest warrant proceedings) của Cơ quan Liên minh châu Âu về các quyền cơ bản (FRA) [33] xem xét cách thức áp dụng trong thực tế các quyền tố tụng hình sự quan trọng (bao gồm quyền tiếp cận luật sư), dựa trên các cuộc phỏng vấn với hơn 250 người là thẩm phán, công tố viên, cảnh sát, luật sư, nhân viên của các cơ quan giám sát các nhà tù, cũng như các bị cáo của 08 quốc gia thành viên EU. Báo cáo tập trung phân tích về quyền tiếp cận luật sư; bị cáo bị tước quyền tự do đặc biệt phải đối mặt với những khó khăn thực tế trong việc tiếp cận trực tiếp với luật sư. Cảnh sát đôi khi ngăn cản các bị cáo tiếp xúc với luật sư từ đầu, tước đi cơ hội của luật sư để đặt câu hỏi có thể giúp bị cáo chuẩn bị bào chữa hiệu quả.
Các bị cáo không phải lúc nào cũng được phép nói chuyện riêng với luật sư của họ trước khi thẩm vấn lần đầu, thay vào đó là cuộc trao đổi ngắn diễn ra trong các hành lang công cộng với sự có mặt của cảnh sát. Báo cáo cũng chỉ ra rằng đối với các vụ án xuyên biên giới, xuyên quốc gia thì vấn đề rào cản ngôn ngữ là nguyên nhân khó khăn trong việc tiếp cận luật sư. Liên quan đến việc cung cấp cho các bị cáo thông tin về quyền của họ để tiếp cận luật sư, cũng như việc tiếp cận hiệu quả với luật sư trong thực tế, báo cáo phát hiện sự tôn trọng và hiệu quả khác nhau giữa các quốc gia thành viên thực thi và các quốc gia thành viên ban hành. Các cơ quan thực thi thường không cảm thấy có thẩm quyền bình luận về các quyền ở các quốc gia khác, vì vậy không thông báo cho những người bị bắt theo EAW (đảm bảo bắt giữ Châu Âu) về quyền liên hệ và chỉ định luật sư tại nước thành viên, luan an 19 không hỗ trợ đầy đủ cho các bị cáo trong việc chỉ định luật sư ở đó.
Tài liệu có giá trị tham khảo hữu ích đối với đề tài luận án ở khía cạnh thực tiễn về thực hiện quyền tiếp cận luật sư trong hội nhập với các nền tư pháp TTHS Châu Âu. Từ những tài liệu nghiên cứu tham khảo trên, tác giả nhận thấy mặc dù mô hình TTHS ở mỗi nước có sự khác nhau nhưng pháp luật TTHS đều có quy định về việc bảo đảm quyền con người, quyền được bào chữa của người bị tình nghi phạm tội hay người bị buộc tôi; luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ bằng các hoạt động chung cơ bản của các nền tư pháp hình sự trên thế giới.