Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khát quát chung về Luật sư 1. Khái niệm luật sư Ở các nước phát triển trên thế giới, nghề Luật sư xuất hiện từ rất sớm và ngày càng được coi trọng. Lịch sử cho thấy, từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại đến thời kỳ Trung cổ, nghề Luật sư đã xuất hiện trong đời sống xã hội tuy nhiên vẫn mang tính tự phát và Luật sư thời kỳ này không thể hiện rõ và đầy đủ các tính chất nghề nghiệp của họ, vai trò của Luật sư bị hạn chế bởi chế độ xã hội chuyên quyền hà khắc.
Đến chế độ tư bản, các cuộc đấu tranh vì dân chủ, bình đẳng diễn ra thường xuyên đã buộc chính quyền các nước tư sản phải mở rộng quyền dân chủ cho người dân, nhu cầu của người dân đối với việc được đảm bảo quyền và lợi ích của mình trên cơ sở các quy định pháp luật luôn thường trực. Nghề Luật sư thể hiện vai trò to lớn của mình, dần hình thành một nghề tự do [18]. Cho đến nay, nghề Luật sư tại các quốc gia phát triển luôn được xã hội tôn vinh là một nghề cao quý. Tại Việt Nam, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức các đoàn thể Luật sư.
Sắc lệnh này quy định việc duy trì tổ chức Luật sư đã có, đồng thời vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật của chế độ cũ về Luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa. Tại Hiến pháp năm 1946 cũng khẳng định quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của công dân. Các bản Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 tiếp tục ghi nhận và đề cao nguyên tắc quan trọng này. 6 luan an Tuy nhiên, phải đến năm 2001, khi Pháp lệnh Luật sư được ban hành và có hiệu lực thì Luật sư mới thực sự được coi là một nghề nghiệp trong xã hội.
Theo pháp lệnh này thì: “Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp lệnh này và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật”[35]. Kể từ khi áp dụng theo Pháp lệnh Luật sư năm 2001, đội ngũ Luật sư nước ta không ngừng được tăng nhanh về số lượng và đảm bảo về chất lượng hoạt động. Các tổ chức luật sư hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, khẳng định được vai trò của tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đồng thời tạo tiền đề cho tổ chức luật sư tại nước ta ngày càng phát triển, vươn xa hơn và tiến tới hội nhập với bạn bè quốc tế. Có thể nói, Pháp lệnh Luật sư năm 2001 là cơ sở pháp lý quan trọng để luật sư hành nghề, đảm bảo đáp ứng nhu cầu về mặt pháp lý cho cá nhân và tổ chức.
Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng thực tiễn, Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã bộc lộ hạn chế, chưa đáp ứng đủ và kịp thời với nhu cầu và xu hướng hiện tại. Trước bối cảnh đó, ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Luật sư. Luật Luật sư năm 2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 và thay thế Pháp lệnh Luật sư năm 2001. Tại Điều 2 Luật Luật sư năm 2006 quy định: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)”.
Thực chất, đây không được coi là quy định về định nghĩa như thế nào là Luật sư mà đây chỉ là quy định về tiêu chuẩn chung trở thành Luật sư. Đó là người Luật sư phải có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư năm 2006, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (khách hàng của luật sư). Như vậy, có thể thấy, 7 luan an pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ đều chưa có quy định cụ thể định nghĩa về luật sư. Do đó, hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa Luật sư, trong đó có một số quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Luật sư là người hoạt động bào chữa chuyên nghiệp hoạt động trong đoàn Luật sư.
Quan điểm này còn rất chung chung và chưa thực sự đầy đủ, bởi lẽ ngoài hoạt động bào chữa, Luật sư còn thực hiện rất nhiều các hoạt động khác, các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng như tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh doanh thương mại… tham gia tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng… Quan điểm thứ hai: Luật sư là người hành nghề liên quan đến lĩnh vực pháp luật khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia [36]. Quan điểm này cũng khá là chung chung và gần giống với quy định tại Điều 2 Luật Luật sư năm 2006. Quan điểm thứ ba: Theo Đại từ điển tiếng Việt: "Luật sư là người có chức trách, dùng pháp luật bào chữa cho bị can trước tòa án" [21]. Theo học viên, định nghĩa này chưa thực sự chính xác, bởi vì, theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử được gọi là bị cáo chứ không phải bị can.
Hơn nữa, ngoài hoạt động bào chữa tại Tòa án nhân dân cho bị cáo thì Luật sư còn thực hiện nhiều dịch vụ pháp lý khác như đã phân tích tại quan điểm thứ nhất. Hiện nay, để trở thành một Luật sư, người đó phải đáp ứng tiêu chuẩn luật sư theo quy định của pháp luật hiện hành. 8 luan an Theo quy định tại Điều 2 Luật luật sư 2006 và Luật luật sư sửa đổi 2012 thì: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng). Tại Điều 10 Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định về tiêu chuẩn Luật sư như sau: "Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư".
Người đáp ứng đủ tiêu chuẩn luật sư như trên chỉ thực sự được gọi là luật sư và được phép hành nghề Luật sư khi đáp ứng đủ hai điều kiện sau: được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và đã gia nhập một Đoàn Luật sư (Điều 11 Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012). Có thể thấy, trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước cùng với chất lượng lập pháp của Quốc hội ngày càng được nâng cao, các quy định về Luật sư cũng được quy định bổ sung, chặt chẽ theo hương nâng cao vai trò của Luật sư trong Bộ luật tố tụng hình sự. Chính vì vậy, đội ngũ các Luật sư cũng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng (Nếu năm 2009 số thành viên của liên đoàn Luật sư Việt Nam mới chỉ là 5.300 Luật sư thì tới tháng 9/2019, số lượng Luật sư đã là 13. Nghề luật sư trong xã hội cũng được coi trọng.
Do vậy, đối với các Luật sư ngoài những yêu cầu về kiến thức, những trình độ chuyên môn cao, nhằm góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân và góp phần bảo vệ pháp chế, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Để làm tốt công việc của mình, thì ngoài yêu cầu 9 luan an về chuyên môn, các Luật sư còn phải tuân thủ theo những quy chế đạo đức nghề nghiệp riêng của nghề luật sư. Phạm vi hành nghề của luật sư trong vụ án hình sự Trong vụ án hình sự, luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người tố giác và người bị tố giác; người bị tạm giữ, người bị bắt do phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; bị can, bị cáo và trong toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Luật sư tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền lợi hợp pháp hoặc người đại diện cho người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người đáp ứng đủ tiêu chuẩn là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhật luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề Luật sư và đáp ứng đủ điều kiện được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và đã gia nhập một Đoàn luật sư để hành nghề Luật sư thực hiện các hoạt động chuyên môn, cung ứng các dịch vụ pháp lý cho khách hàng. Phân biệt Luật sư với tư cách là người bào chữa trong vụ án hình sự với người bào chữa Trước hết, về người bào chữa: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi người tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa. Theo đó, tại Khoản 1 Điều 72 Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2015 quy định: “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”. 10 luan an Tại Khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người bào chữa có thể là những người sau: “2.