mở đầu của quá trình tố tụng, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện các hoạt động tố tụng trong các giai đoạn tiếp theo để giải quyết vụ án hình sự trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra trên thực tế có dấu hiệu tội phạm. Mọi hoạt động tố tụng hình sự (trừ một số trường hợp đặc biệt như khám nghiệm hiện trường, tử thi, bắt quả tang.) chỉ có thể được tiến hành khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Khởi tố vụ án hình sự tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Đồng thời, việc khởi tố vụ án hình sự sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các cơ quan có thẩm quyền tố tụng.
Sau khi xác định dấu hiệu tội phạm và khởi tố vụ án, hoạt động tố tụng ở giai đoạn điều tra sẽ tập trung làm rõ các hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm. Kể từ thời điểm này, quan hệ PLTTHS giữa Nhà nước và người thực hiện tội phạm sẽ phát sinh. - Khởi tố vụ án hình sự là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo vệ quyền con người, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Khởi tố vụ án hình sự liên quan chặt chẽ với việc bảo đảm pháp chế, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân được pháp luật bảo hộ.
Cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội. Đặc điểm, ý nghĩa của khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại 1. Đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt của khởi tố vụ án hình sự. Do vậy, nó có những đặc điểm chung của khởi tố vụ án hình sự.
Ngoài ra, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại có những đặc điểm riêng sau: 15 luan an - Để khởi tố vụ án hình sự phải có yêu cầu khởi tố của bị hại. Nghĩa là nếu bị hại không yêu cầu thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án. Đây là sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích chung của toàn xã hội và lợi ích của bị hại, khi lợi ích của bị hại không mâu thuẫn với lợi ích chung. - Quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại chỉ áp dụng đối với một số tội phạm nhất định.
Đó là các tội phạm mà tính chất của sự xâm hại không nghiêm trọng, khách thể của tội phạm là những mối quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp đến bản thân người bị hại như sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền sở hữu trí tuệ, hoặc tội phạm nghiêm trọng nhưng việc xử lý bằng biện pháp hình sự có thể mang lại những hậu quả không mong muốn cho bị hại. - Điều kiện để khởi tố vụ án hình sự, cũng như chấm dứt việc giải quyết vụ án hình sự phụ thuộc ý chí của bị hại. Chỉ bị hại (hoặc người đại diện trong trường hợp luật định) có yêu cầu thì vụ án mới được khởi tố. Ngoài ra, khi bị hại rút yêu cầu thì đó là cơ sở để chấm dứt việc truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, nhưng giới hạn ở một số giai đoạn tố tụng nhất định.
Yêu cầu của bị hại có thể thể hiện qua đơn yêu cầu hoặc biên bản ghi lời khai. Ý nghĩa của việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại Có những ý nghĩa chung của khởi tố vụ án. Ngoài ra, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại có những ý nghĩa riêng sau: - Quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại nhằm đáp ứng lợi ích của bị hại, phù hợp với lợi ích chung toàn xã hội. Trong nhiều trường hợp, đưa người phạm tội ra xử lý sẽ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bị hại, hoặc ảnh hưởng đến mối quan hệ đặc biệt vốn có giữa bị hại và người phạm tội, không có lợi cho lợi ích chung của toàn xã hội.
16 luan an - Quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại đảm bảo tôn trọng quyền con người, quyền và lợi ích của cá nhân. Không mâu thuẫn với nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. - Quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại vừa đạt mục tiêu ổn định xã hội, vừa bảo vệ và thỏa mãn lợi ích của bị hại. Đây là sự kết hợp giữa lợi ích chung của toàn xã hội và lợi ích của bị hại.
Cơ sở việc quy định chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong pháp luật hình sự Việt Nam Chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại lần đầu tiên được ghi nhận trong BLTTHS năm 1988, sau đó được phát triển, và hoàn thiện hơn trong BLTTHS năm 2003, đến thời điểm hiện tại là BLTTHS năm 2015. Việc ghi nhận chế định này xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây. Cơ sở lý luận Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của bất cứ quốc gia nào cũng đều có nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống tội phạm, trong đó trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng là phát hiện và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, nhằm bảo vệ chế độ chính trị, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, pháp luật quy định cho phép bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm.
sau đó vụ án được giải quyết theo thủ tục chung. “Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thay mặt Nhà nước thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội” [17, tr 40]. 17 luan an Từ nội hàm khái niệm “quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự (buộc tội) đối với người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm” đã nêu trên, có thể thấy “tư tố” chính là hoạt động buộc tội do cá nhân (tư nhân) thực hiện, và quyền “tư tố” là quyền của cá nhân được Nhà nước cho phép nhằm thực hiện việc buộc tội đối với người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Tuy nhiên quyền “tư tố” nằm trong giới hạn và không làm mất đi quyền công tố của Nhà nước. PLTTHS Việt Nam, khi quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại qua lịch sử lập pháp các giai đoạn đều có sự tiếp thu, kế thừa những điểm tiến bộ trong quy định của pháp luật của các quốc gia trên thế giới, thường được áp dụng đối với hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp, thuộc nhóm tội xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và một số quyền nhân thân của con người. Khi CQTHTT ban hành quyết định khởi tố vụ án thì sẽ tiến hành để giải quyết theo thủ tục thông thường và quyền công tố của Nhà nước chính thức phát sinh, và nếu bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thì CQTHTT sẽ đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật nếu bị hại hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Đây là quy định nhằm thực hiện bảo vệ quyền con người.
Cơ sở thực tiễn Từ năm 1986, sau một thời gian dài đất nước trải qua chiến tranh và thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Đảng ta đã thực hiện chính sách đổi mới cả kinh tế và chính trị. Nền kinh tế tập trung được chuyển hướng theo kinh tế thị trường, trong lĩnh vực chính trị, tiến trình dân chủ hoá đã được triển khai cả về bề rộng và chiều sâu, tính công khai, dân chủ, ý thức về công bằng xã hội đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ trong toàn xã hội. Những thay đổi của kinh tế và chính trị, kéo theo những thay đổi về hệ thống pháp luật, trong đó có PLTTHS. Lần đầu tiên, trong lịch sử lập pháp, Nhà nước ta đã pháp điển hóa BLTTHS năm 1988, có hiệu lực thi hành từ ngày 18 luan an 01/01/1989, tổng kết kinh nghiệm của hơn 40 năm lập pháp tố tụng hình sự sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập từ năm 1945 đến năm 1988.
Đồng thời các nhà lập pháp Việt Nam đã có sự học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu những tiến bộ của các hệ thống pháp luật trên thế giới về tố tụng hình sự trong đó có chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại và vận dụng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh Việt Nam, với mục đích mở rộng dân chủ, quyền của bị hại trong tố tụng hình sự nói riêng, góp phần vào việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo cân bằng lợi ích giữa chung và riêng, giữa lợi ích công và lợi ích của cá nhân. Mặc khác, sau đổi mới bên cạnh mở rộng dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thì việc hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi hệ thống pháp luật của các quốc gia có sự giao thoa, học hỏi, tiếp nhận lẫn nhau, cân nhắc cho phù hợp với truyền thống chính trị - pháp lý, điều kiện thực tiễn của nền tư pháp đang từng bước chuyển đổi và tính chất của nền dân chủ XHCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu mở rộng dân chủ là hết sức cần thiết, nhưng vẫn phải đảm bảo mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện và xử lý kịp thời, bảo vệ chế độ chính trị, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bị hại không thể thay thế Nhà nước quyết định việc buộc tội, đưa một người ra xét xử tại TA.