đặt vấn đề là xem cách thức nào là tốt nhất để tìm ra sự thật. Sự khác nhau giữa 11 các mô hình tố tụng tất yếu dẫn đến sự khác nhau, trong đó có sự khác nhau về địa vị pháp lý của các chủ thể, cách thức vận hành các chức năng tố tụng, sự khác nhau về những quy định liên quan đến địa vị pháp lý của Luật sư. Mặt khác những nghiên cứu về mô hình tố tụng nói trên có những nội dung liên quan đến địa vị pháp lý của NBC, trong đó có Luật sư. Tham khảo các tài liệu trên giúp cho việc nghiên cứu của tác giả có những hiểu biết về các mô hình tố tụng và địa vị pháp lý của Luật sư trong các mô hình tố tụng đó.
Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện PLTTHS, địa vị pháp lý của Luật sư, phù hợp với mô hình tố tụng pha trộn và cải cách tư pháp mà Việt Nam đang hướng đến. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Thời gian qua, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về quyền con người, QBC của NBBT, điạ vị pháp lý của Luật sư trong các giai đoạn tố tụng hình sự. Các nội dung này được tiếp cận ở phạm vi rộng, hẹp khác nhau, trong đó đề cập đến địa vị pháp lý của Luật sư. Những cơ sở lý luận đó giúp cho tác giả có được cách tiếp cận đúng đắn về QBC và địa vị pháp lý của Luật sư, xác định hướng kiến nghị hoàn thiện PLTTHS trên nguyên tắc vừa bảo đảm QBC của NBBT, vừa bảo đảm lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của xã hội, bảo đảm lợi ích của cơ quan, tổ chức; quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như đưa ra các giải pháp nâng cao vai trò, vị trí địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo pháp luật TTHS Việt Nam.
Nhóm các công trình nghiên cứu về mô hình tố tụng, nguyên tắc tố tụng hình sự; chức năng TTHS liên quan đến địa vị pháp lý của người bào chữa, Luật sư; về quyền và địa vị pháp lý của các chủ thể trong TTHS; về quyền và địa vị pháp lý của người bào chữa, Luật sư nói chung và trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng. Tác giả chia thành 3 nhóm công trình nghiên cứu như sau: Nhóm các công trình nghiên cứu mô hình tố tụng, nguyên tắc TTHS; chức năng tố tụng hình sự có liên quan đến địa vị pháp lý của người bào chữa, Luật sư. + Luận án tiến sĩ luật học “Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng” [100] của TS.Nguyễn Thị Thủy năm 2014 là công trình đầu tiên nêu lên yêu cầu đổi mới toàn diện mô hình TTHS Việt Nam theo hướng áp dụng phù hợp các yếu tố của tố tụng tranh tụng. Tuy nhiên tác giả dừng lại trong việc hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam theo hướng xây dựng mô hình tố tụng pha trộn, duy trì phát huy những yếu tố tích cực của mô hình tố tụng thẩm vấn, tiếp thu những yếu tố tích cực của mô hình tố tụng tranh tụng phù hợp với điều kiện theo hướng cải cách tư pháp của Việt Nam.
12 + Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng 2012 “Các chức năng trong tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” [46]. Tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận về chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử trong tố tụng hình sự; nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện các chức năng này trong thực tiễn TTHS Việt Nam, đề xuất những giải pháp cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng của TTHS. Tuy nhiên tác giả dừng lại trong việc đánh giá chức năng từng mô hình tố tụng, các chủ thể thực hiện chức năng ấy trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân mà không đề cập đến quyền và nghĩa vụ của Luật sư. + Luận án tiến sĩ “Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” [36] của tác giả Nguyễn Văn Hiển năm 2010.
Luận án đã nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn để chứng minh sự tồn tại khách quan của nguyên tắc tranh tụng trong các mô hình TTHS; khả năng xây dựng và áp dụng có hiệu quả nguyên tắc này phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của PLTTHS Việt Nam mà không cần thay đổi mô hình tố tụng truyền thống. Từ đó khẳng định tầm quan trọng của chức năng gỡ tội và địa vị pháp lý của NBC theo PLTTHS Việt Nam. Tuy nhiên tác giả chỉ phân tích nguyên tắc tranh tụng trong TTHS mà không đánh giá được hiệu quả chất lượng tranh tụng ra sao nếu không có NBC tham gia tranh tụng ngay từ giai đoạn điều tra VAHS. + Mức độ đại cương có Giáo trình “Luật Tố tụng hình sự” [107] của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2006; Giáo trình “Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” [108] của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2011; Giáo trình “Luật sư và nghề Luật sư” [109] của Trường Đào tạo các chức danh tư pháp năm 2001; Giáo trình “Kỹ năng giải quyết vụ án hình sự” [43] của Học viện Tư pháp (Nxb Lao động) năm 2014; Giáo trình “Kỹ năng hành nghề Luật sư” tập IV [42] của Học viện Tư pháp năm 2001.
Nội dung trong các giáo trình này là những kiến thức đại cương, cơ bản về mặt pháp luật TTHS, những kỹ năng hành nghề của Luật sư, nội dung quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong VAHS. + Các bài viết có tính chất tham khảo về hoạt động tranh tụng trong TTHS như bài:“Bàn về tranh tụng trong tố tụng hình sự” của TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi [126]. + Công bố tại Hội thảo quốc tế về BLTTHS năm 2003 và quyền của Luật sư, năm 2012, TS.
Lê Hữu Thể và Ths Nguyễn Thị Thủy, có bài viết “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp” [96]. Bài viết phân tích chế định NBC trong TTHS Việt Nam, theo đó quá trình phát triển mô hình TTHS Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ mô hình tố tụng hình sự của Đức và Liên bang Nga. 13 Liên đoàn Luật sư Việt Nam cũng đã tổ chức những Hội thảo khoa học nghiên cứu về địa vị pháp lý của Luật sư như hội thảo khoa học “Cải cách tư pháp và phòng chống oan sai trong hoạt động tố tụng” [55] tổ chức tại Hà Nội ngày 2 & 3-11-2009; Trường Đại học Luật Hà Nội và UNDP cũng tổ chức hội thảo quốc tế “Báo cáo quyền bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn tại Việt Nam” [130] tháng 5- 2010. Tại các cuộc hội thảo này, nhiều Luật sư đã có những tham luận, những kiến nghị xác đáng được rút ra từ thực tiễn hành nghề, thể hiện những trăn trở, tâm huyết với hoạt động hành nghề Luật sư.
+Công trình “Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015” do PGS.TS Nguyễn Hoà Bình (chủ biên) - NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016 [3]. Trong 18 công trình nghiên cứu trên, đã công bố 19 nội dung chuyên sâu; công bố 3 nội dung quan trọng i) Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo sửa đổi, bổ sung BLTTHS; ii) Những công việc triển khai xây dựng BLTTHS năm 2015; iii) Những nội dung lớn sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015. Yêu cầu đặt ra được quán triệt trong suốt quá trình soạn thảo là phải thể chế hóa đầy đủ, sâu sắc chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Hiến pháp 2013, phải thật sự công tâm, khách quan vì cuộc sống, sự bình yên của nhân dân, vì những giá trị văn minh, tiến bộ của nền tư pháp. Trong phần tổng quan của công trình, PGS.
Nguyễn Hòa Bình đã luận giải một số nội dung lớn sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 như: Đổi mới chế định bảo đảm chứng cứ, chứng minh cho phù hợp với tình hình mới như thay đổi khái niệm chứng cứ theo hướng phá thế “độc quyền” trong việc thu thập chứng cứ (hiện đang chỉ giao cho cơ quan tiến hành tố tụng) theo đó bổ sung cho người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, NBBT có quyền đưa ra chứng cứ; bổ sung nguyên tắc loại trừ chứng cứ nhằm khắc phục những biểu hiện tùy tiện, vi phạm quyền con người, quyền công dân có thể xảy ra trong quá trình chứng minh vụ án; bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, củng cố lòng tin của nhân dân vào công lý, vào sự công bằng của pháp luật; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm QBC của NBBT. Ngoài ra, trong công trình trên TS.LS Phan Trung Hoài bổ sung làm rõ nội dung “Về mở rộng các quyền có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa với tư cách chủ thể thực hiện chức năng cơ bản của tố tụng hình sự” [3, tr 195]. Điểm lớn nhất trong lịch sử hình thành và phát triển PLTTHS Việt Nam là đề cao địa vị pháp lý, vai trò và trách nhiệm của NBC trong TTHS. BLTTHS năm 2015 đã xây dựng chương V (gồm 13 điều), khắc phục sự không bình đẳng giữa NBC với người THTT; quyền của NBC phái sinh từ NBBT nhưng lại phụ thuộc hoàn toàn vào sự chấp nhận hay không của cơ quan THTT.
Theo đó, phải đảm bảo khi nào và ở đâu có việc buộc tội thì ở đó QBC phải được thực hiện và tôn trọng. Sự buộc tội càng cao thì 14 sự bào chữa càng phải lớn, tội phạm càng nghiêm trọng càng phải coi trọng việc bào chữa. Tăng cường hơn nữa trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo, đề cao vai trò của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng. Việc NBC tham gia tố tụng không chỉ để thực hiện việc bào chữa, gỡ tội cho NBBT mà còn góp phần cùng các cơ quan THTT xác định sự thật vụ án, tìm chân lý khách quan; xác lập một kênh giám sát đối với các cơ quan tư pháp.
Đây cũng chính là nội dung mà tác giả sẽ sử dụng và tiếp tục nghiên cứu sâu trong luận án của mình. Tuy nhiên, phần tổng quan các tác giả chưa dự liệu những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện BLTTHS năm 2015, cũng như khả năng sửa đổi, bổ sung các điều luật là sự thiếu sót trong quá trình xây dựng PLTTHS Việt Nam. +Công trình “Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015” do PGS.