Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Người làm chứng trong tố tụng hình sự 1. Lịch sử hình thành và phát triển của chế định người làm chứng Lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ lâu đời và phổ biến trong hoạt động tố tụng. Pháp luật TTHS của nhiều nước trên thế giới đều quy định về nguồn chứng cứ này, bởi lẽ người làm chứng biết được diễn biến của VAHS, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội, người bị hại… So với nhiều chế định khác thì chế định người làm chứng là một trong những chế định cổ xưa nhất của TTHS.
Từ xưa đến nay, lời khai của người làm chứng luôn được nhìn nhận là nguồn chứng cứ quan trọng để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Trong lịch sử phát triển của khoa học luật TTHS, chế định người làm chứng đã trải qua những thăng trầm nhất định và ngày nay lời khai của người làm chứng đã chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống nguồn chứng cứ trong TTHS ở nhiều nước trên thế giới. Hoạt động tố tụng càng có tính tranh tụng bao nhiêu, sự bình đẳng về quyền của các bên trong hoạt động chứng minh càng được thừa nhận đầy đủ bao nhiêu thì lời khai của người làm chứng càng được sử dụng phổ biến bấy nhiêu. Trong lịch sử TTHS Việt Nam, người làm chứng đầu tiên được quy định tại Điều 714 Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức): “Những người là nhân chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thì không cho phép ra làm chứng.
Nếu những người ấy giấu giếm, thì khép vào tội không nói đúng sự thực. Hình quan, ngục quan mà dung túng việc đó đều bị tội” [53, tr. Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Trong thời kỳ này, đất nước ta chịu sự ảnh hưởng của luật pháp phong kiến và luật pháp tư sản Pháp.
Với chính sách chia để trị, đất nước ta trong giai đoạn này có 3 hệ thống pháp luật ở ba miền khác nhau là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Đồng thời hệ thống pháp luật đó đã được pháp điển hóa và được áp 7 dụng cho đến năm 1945. Trong BLTTHS áp dụng tại Bắc kỳ dưới thời Pháp thuộc, người làm chứng được quy định từ Điều 20 đến Điều 30. Điều 20 Bộ luật này quy định: “Phàm người chứng đã liệt danh trong đơn khống và các người mà quan thẩm phán liệu nghĩ đến chất vấn trong khi thẩm cứu, thì đều phải bị đòi gọi đến Tòa án để chất vấn” [16, tr.
Ngoài việc quy định chủ thể nào là người làm chứng, bộ luật còn quy định về nghĩa vụ của người làm chứng tại Điều 22 như sau: “Phàm người chứng đã bị chiếu lệ đòi gọi, không có cớ gì hợp lẽ mà tự ý không đến hầu tòa sơ cấp nghỉ xử việc vị cảnh, hoặc trước Tòa án tỉnh, hoặc trước Tòa đệ tam cấp hoặc trước quan thẩm cứu, thì có thể bị ép bắt phải đến hầu, và vì cớ không đến hầu phải bị xử phạt từ 1 đồng đến 5 đồng, và phạt giam từ 1 ngày đến 5 ngày, hoặc hai thứ chỉ phải chịu một” [16, tr. Trước khi BLTTHS năm 1988 ra đời, trong pháp luật TTHS Việt Nam đã có những văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, công văn số 98-7 NCPL ngày 2/3/1974 gửi Tòa án nhân dân địa phương đề cập việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng. Công văn nêu lên sự cần thiết phải xác minh, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng. Lời khai của người làm chứng trực tiếp hay gián tiếp đều phải được xác minh có đúng sự thật không vì những lý do sau: - Người làm chứng tuy khách quan nhưng vì trí nhớ hoặc mắt có thể không tốt, nên thuật lại có thể hoàn toàn không đúng diễn biến của sự việc.
- Việc xảy ra đã lâu nên không nhớ chi tiết, thuật lại có thiếu sót. - Ngại phiền phức hoặc thù oán mà không khai hết sự việc mà mình biết. - Vì cảm tình hoặc có mâu thuẫn với một bên trong vụ án mà khai thêm hoặc bớt, thiếu chính xác. - Có nhân chứng, vì nhớ không kỹ mà khai thêm, bớt, suy diễn theo chủ quan của mình.
- Đã khai không đúng, nhưng sau vẫn khai như trước, vì sợ khai khác thì bị đánh giá là người không trung thực. 8 Thông thường lời khai của những người đúng đắn, ngay thẳng, không có thân thuộc, bạn bè, không có mâu thuẫn gì với bị cáo, với người bị hại hoặc không có quyền lợi gì liên quan đến vụ án thì có nhiều khả năng chính xác. Tuy nhiên, không thể khẳng định trước là lời khai của nhân chứng nào là đáng tin hơn nhân chứng nào, dù là nhân chứng trực tiếp, nếu lời khai ấy chưa được xác minh, thẩm tra lại. Trong Công văn này, Tòa án nhân dân tối cao còn rút ra một vấn đề cần chú ý khi kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng: - Xem nhân chứng thuộc loại trực tiếp hay gián tiếp.
- Sự việc họ khai có rõ ràng hay chỉ là phỏng đoán, suy diễn. - Trạng thái về tinh thần, tuổi của người làm chứng. - Cương vị, điều kiện công tác, nơi ở của họ có thể cho phép họ biết rõ sự việc như họ đã khai không? - Họ có quan hệ thân thuộc, bạn bè hoặc có mâu thuẫn gì với bị cáo, với người bị hại không? Quyền lợi của họ có liên quan đến vụ án không? Ngoài ra, Thông tư 16/TATC ngày 27/9/1974 của TANDTC cũng đã đề cập đến việc triệu tập những ai là người làm chứng: “Tòa án nhân dân không nhất thiết phải triệu tập mọi người đã được hỏi với tư cách là nhân chứng trong quá trình điều tra, mà chỉ cần triệu tập những người cần thiết cho việc xét hỏi tại phiên tòa”. Như vậy, vấn đề người làm chứng, cũng như việc quy định về quyền, nghĩa vụ của họ được đề cập từ rất sớm trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam.
BLTTHS đầu tiên của nước ta đã được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988, có hiệu lực từ ngày 01/01/1989, đã đánh dấu một bước phát triển mới của khoa học pháp luật TTHS cũng như về cơ sở pháp lý bảo vệ người làm chứng. Chế định về người làm chứng đã được quy định làm cơ sở để xây dựng một chế định đầy đủ và chặt chẽ hơn về sau. Trong điều kiện đổi mới toàn diện đất nước để hội nhập kinh tế thế giới thì cùng với sự phát triển mọi mặt của kinh tế xã hội, tình hình tội phạm cũng ngày một nguy hiểm hơn, tinh vi hơn. Chính vì vậy mà qua quá trình áp dụng quy định trong BLTTHS năm 1988, bản thân nội dung Bộ luật đã bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập 9 so với thực tiễn.
Trước tình hình đó thì BLTTHS năm 1988 không còn phù hợp nữa sau hơn 10 năm được áp dụng. Đáp ứng nhu cầu và tình hình mới, ngày 26/11/2003 BLTTHS năm 2003 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 01/7/2004 thay thế cho BLTTHS năm 1988. Bởi vì, BLTTHS năm 1988 mới chỉ quy định trách nhiệm của người làm chứng mà không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Người làm chứng không đến theo giấy triệu tập thì có thể bị dẫn giải, thậm chí bị truy tố nếu từ chối hoặc trốn tránh khai báo.
Trước thực trạng người làm chứng bị CQTHTT gọi hỏi nhưng mất công mất việc mà không được gì, việc gọi hỏi lại không chỉ một lần: hết Cơ quan điều tra, đến Viện kiểm sát rồi Tòa án. Chưa kể người nào đứng ra làm chứng còn có thể bị đối tượng trong vụ án đe dọa hành hung. Vì vậy, BLTTHS 2003 đã bổ sung một số điều về địa vị pháp lý của người làm chứng so với BLTTHS năm 1988 như người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp của mình; việc khiếu nại quyết định, hành vi kết luận của người, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, quyền được thanh toán các chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật (Điều 55 BLTTHS năm 2003). Tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành đã khẳng định vai trò quan trọng của BLTTHS năm 2003 trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Mặc dù vậy, thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 cũng bộc lộ những vướng mắc, bất cập về các quy định về người làm chứng như: chưa quy định thủ tục cho người chưa thành niên là người làm chứng; còn hạn chế một số quyền; thiếu các biện pháp và cơ chế bảo vệ người làm chứng. Trước yêu cầu cải cách tư pháp nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền, cũng như cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, bổ sung và làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng 10 khi thực hiện chức năng; đồng thời chủ động hội nhập quốc tế trong công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm… Chính vì lẽ đó, BLTTHS năm 2015 được Quốc hội thông qua vào ngày 27/11/2015 đã bổ sung thêm một số quyền cho người làm chứng, quy định thủ tục cho người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng; các biện pháp bảo vệ người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc hoặc học tập phải tạo điều kiện để họ tham gia tố tụng nhằm hoàn thiện các quy định về người làm chứng cho phù hợp với tình hình hiện nay. Khái niệm người làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam Trong tiếng Anh người làm chứng được viết là (Eye - witness).