Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VỀ BÀO CHỮA CHỈ ĐỊNH 1. Những vấn đề lý luận về bào chữa chỉ định trong luật tố tụng hình sự. Khái niệm về bào chữa chỉ định. Vấn đề quyền con ngƣời và bảo đảm quyền con ngƣời là những vấn đề quan trọng trong mỗi quốc gia và là biểu thị của một xã hội văn minh.
Các vấn đề này đƣợc ghi nhận trong hầu hết các văn bản pháp lý về quyền con ngƣời. Cụ thể một số văn bản quốc tế nhƣ: Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời, công ƣớc châu Mỹ về quyền con ngƣời, công ƣớc Châu Phi về quyền con ngƣời và công dân… Các bản Hiến pháp của Việt Nam năm từ trƣớc đến nay điều có quy định Nhà nƣớc có nghĩa vụ bảo đảm quyền bào chữa của ngƣời bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự. Trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử, Nhà nƣớc luôn có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của công dân. Một trong các hình thức thực hiện quyền công dân đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm thực hiện chính là quyền đƣợc bảo vệ mình trƣớc cơ quan pháp luật, trong đó có quyền bào chữa.
Quyền bào chữa đƣợc ghi nhận trong BLTTHS là cần thiết, giúp CQTHTT giải quyết vụ án đƣợc khách quan và tránh đƣợc việc làm oan ngƣời vô tội. Hơn nữa, việc tranh tụng công bằng giữa bên buộc tội (Nhà nƣớc) với bên gỡ tội (Ngƣời bị buộc tội, Ngƣời bào chữa) trong quá trình giải quyết vụ án hình sự sẽ tạo ra cơ chế thuận lợi cho hoạt động TTHS đƣợc tiến hành có hiệu quả. Đó cũng là một trong những cơ sở giúp Tòa án giải quyết vụ án đƣợc chính xác. Xung quanh khái niệm quyền bào chữa, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau.
Cụ thể nhƣ: 8 - Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng đối với việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm giảm trách nhiệm của bị can [8, tr. - Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền bào chữa đƣợc hiểu rộng hơn, nó không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà nó còn đƣợc thể hiện trong cả việc bảo đảm các quyền và lợi ích đƣợc pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan đến việc làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can trong vụ án [7, tr. - Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về ngƣời bị tinh nghi phạm tội, ngƣời bị kết án, ngƣời bào chữa, bị đơn dân sự và ngƣời đại diện hợp pháp của họ [11, tr. - Quan điểm thƣ tƣ cho rằng, quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hòa các hành vi tố tụng do ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngƣời bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của CQTHTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm của mình trong vụ án hình sự [8, tr.
- Quan điểm thứ năm cho rằng, trong TTHS, bị can, ngƣời bị tình nghi cũng nhƣ những công dân tham gia trong TTHS khác, trong đó có cả ngƣời bị hại đều cần tới sự bảo vệ các lợi ích có thể bị xâm hại [11, tr. Quan điểm thứ sáu cho rằng, “không chỉ có bị cáo mà cả người bị hại cũng cần đến việc bào chữa. Nhân chứng, giám định viên và cả những người khác cũng vậy, nếu quyền lợi của họ bị xâm hại”. - Quan điểm thứ bảy cho rằng: “Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm trách nhiệm của bị can” [11, tr.
Quyền này đƣợc hiểu rộng, nó không chỉ dừng lại ở việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can 9 không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà nó còn đƣợc thể hiện trong việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp đƣợc pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan đến việc làm giảm trách nhiệm của bị can trong vụ án. Quan điểm này quá hẹp và không chính xác vì một ngƣời tham gia tố tụng với tƣ cách bị can khi cơ quan có thẩm quyền có đủ căn cứ xác định họ là ngƣời thực hiện hành vi phạm tội và ra quyết định khởi tố bị can. Trong tố tụng hình sự, khái niệm bị can chỉ tồn tại cho đến thời điểm trƣớc khi có quyết định đƣa vụ án ra xét xử sau đó vụ án đƣợc tiếp tục thì tƣ cách là bị cáo. Nếu thừa nhận quan điểm về quyền bào chữa của bị can thì vô hình chung đã tƣớc đi quyền bào chữa của bị cáo, trong giai đoạn họ là ngƣời bị buộc tội thể hiện ở việc truy tố của VKS và Tòa án xem xét có tôi hay không có tội.
- Quan điểm thứ tám cho rằng: “Quyền bào chữa không thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về ngƣời bị tình nghi, ngƣời bị kết án, ngƣời bào chữa, bị đơn dân sự và nguyên đơn dân sự” [30, tr. Hiện nay, khái niệm về quyền bào chữa trong TTHS đƣợc hiểu rất khác nhau và thực tế nó cũng đƣợc quy định khác nhau trong TTHS của các nƣớc. Qua việc nghiên cứu các quan điểm khác nhau về quyền bào chữa cũng nhƣ những quy định về quyền bào chữa trong pháp luật TTHS của một số nƣớc, tác giả hoàn toàn đống ý với quan điểm cho rằng, quyền bào chữa là quyền của ngƣời bị buộc tội. Tại Điều 11 BLTTHS 2003 quy định về đảm bảo quyền bào chữa nhƣ sau: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”.
Nhƣ vậy, theo quy định của BLTTHS 2003 thì ngƣời bị buộc tội là ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Họ thực chất là một ngƣời, nhƣng ở từng giai đoạn tố tụng khác nhau thì có tên gọi khác nhau. Trên cơ sở này, BLTTHS 2015 quy định theo tinh thần Hiến pháp 2013 về việc mở rộng ngƣời bị buộc tội còn bao gồm cả ngƣời bị bắt và ngoài việc họ có quyền đƣợc nhận sự trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật. 10 Nhƣ vậy: Quyền bào chữa của người bị buộc tội có thể hiểu là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định, cho phép họ có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Quyền bào chữa là một chuẩn mực bắt buộc [16] trong quyền đƣợc xét xử công bằng [17], có tính chất quan trọng đƣợc pháp luật nhân quyền quốc tế và tập quán quốc tế bảo vệ. Quyền bào chữa đƣợc ghi nhận trong các công ƣớc Quốc tế và có hiệu lực ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý với các quốc gia thành viên. Bản chất pháp lý của quy định bào chữa chỉ định là xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự. Đối với một số trƣờng hợp một số trƣờng hợp đặc biệt nhƣ mức khung hình phạt là tử hình; bị can, bị cáo là ngƣời chƣa thành niên; ngƣời có nhƣợc điểm về thể chất và tinh thần thì Nhà nƣớc đã chủ động tạo ra sự đối trọng giữa hai bên: bên buộc tội và bên gỡ tội để bảo đảm quyền bào chữa cho ngƣời bị buộc tội đƣợc thực hiện quyền của họ.
Chủ thể của quyền bào chữa chỉ định bao gồm những đối tƣợng sau: - Bị can, bị cáo về theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình đƣợc quy định tại Bộ luật hình sự; - Bị can, bị cáo là ngƣời chƣa thành niên, ngƣời có nhƣợc điểm về thể chất hay tâm thần. Chủ thể thực hiện bào chữa chỉ định là Luật sƣ, bào chữa viên nhân dân và ngƣời đại diện của ngƣời bị buộc tội và trợ giúp viên pháp lý. “Chỉ định” theo nghĩa phổ thông là cấp hoặc ngƣời có thẩm quyền quyết định chọn hay cử ra để làm một việc. Trong tố tụng hình sự Việt Nam thì, Trong những trƣờng hợp nói trên, bếu bị can, bị cáo không mời ngƣời bào chữa thì cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sƣ phân công Văn phòn luật sƣ cử ngƣời bào chữa cho họ hoặc đề nghi Ủy 11 ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cƣ ngƣời bào chữa cho thành viên của tổ chức mình [23, Đ.
Bào chữa chỉ định xuất phát từ quy định của pháp luật TTHS về quyền bào chữa của ngƣời bị buộc tội. Theo quan điểm của nhà làm luật Việt Nam, ngƣời bị bắt, ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo đƣợc quyền sử dụng tất cả những biện pháp nhằm chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội của CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc để giảm nhẹ TNHS của mình trong vụ án.TS Nguyễn Thái Phúc thì, thông thƣờng sự tham gia của luật sƣ phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo, ngƣời bị tạm giữ. Họ có thể trực tiếp mời hoặc ủy quyền cho ngƣời thân của mình mời luật sƣ bào chữa. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp đặt biệt luật quy định sự tham gia của ngƣời bào chữa vào trong vụ án không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo [20].
Trong một số trƣờng hợp đặc biệt luật quy định sự tham gia của ngƣời bào chữa trong vụ án là bắt buộc nhƣ: Bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định phạt tù cao nhất đến 20 năm, tù chung thân, tử hình; hoặc ngƣời bị buộc tội là ngƣời chƣa thành niên, ngƣời có nhƣợc điểm về tâm thần, ngƣời có nhƣợc điểm về thể chất mà không thể tự bào bữa. Khi các chủ thể này hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ không mời ngƣời bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban mặt trận tổ quốc cử ngƣời bào chữa cho thành viên của tổ chức mình. Trong lý luận gọi đây là trƣờng hợp ngƣời bào chữa bắt buộc, còn trong thực tiễn gọi đây là bào chữa chỉ định. Các trƣờng hợp bào chữa chỉ định trƣớc hết, ngƣời bị buộc tội phải đƣợc bảo đảm đầy đủ quyền bào chữa nhƣ tất cả những ngƣời bị buộc tội khác, tức là vẫn có quyền tự bào chữa và nhờ ngƣời khác bào chữa, và các CQTHTT phải đảm bảo cho họ đƣợc thực hiện quyền này.