Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, các yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra đòi hỏi phải nâng cao tính công khai, dân chủ và chất lượng tranh tụng trong tố tụng hình sự. Chủ trương này được thể hiện nhất quán qua nhiều văn kiện của Đảng:
- Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị: Yêu cầu nâng cao chất lượng công tác của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa (NBC) và những người tham gia tố tụng khác; các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, nghiên cứu hồ sơ, tranh luận dân chủ tại phiên tòa.
- Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 26 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: Khẳng định việc đổi mới tổ chức phiên tòa xét xử, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa xét xử được xác định là khâu đột phá của hoạt động tư pháp.
- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII: Nêu rõ phương hướng "Xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá", đồng thời hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư để bảo đảm luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý.
Thể chế hóa quan điểm của Đảng và tinh thần Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã xây dựng Chương V quy định về bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, bổ sung nhiều quyền và nghĩa vụ mới cho NBC tại Điều 72 và Điều 73. Sự tham gia của NBC trong tố tụng hình sự không chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội mà còn hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) xác định sự thật khách quan của vụ án, hạn chế oan sai.
Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn cho thấy việc thực thi các quy định này vẫn tồn tại bất cập. Vị trí, vai trò của NBC chưa được bảo đảm đầy đủ; xuất hiện tình trạng NBC không thực hiện hoặc thực hiện chưa hết quyền và nghĩa vụ, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tố tụng cũng như quyền lợi của người được bào chữa. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự" được tác giả lựa chọn nghiên cứu.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền và nghĩa vụ của NBC trong tố tụng hình sự.
- Phân tích cụ thể các quy định của BLTTHS năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của NBC, chỉ ra những điểm tiến bộ cũng như các vướng mắc, bất cập còn tồn tại trong quy định pháp luật.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa vụ của NBC; chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự và các giải pháp thực tế nhằm nâng cao chất lượng thực hiện quyền, nghĩa vụ của NBC, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các khía cạnh lý luận, quy định pháp lý tại BLTTHS năm 2015 và thực tiễn thi hành quyền và nghĩa vụ của NBC trong tố tụng hình sự.
- Phạm vi nội dung: Các quy định pháp luật tố tụng hình sự về quyền, nghĩa vụ của NBC; thực tiễn áp dụng và các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng thi hành.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong phạm vi cả nước.
- Phạm vi thời gian: Từ thời điểm BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành cho đến thời điểm thực hiện khóa luận (năm 2023).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung pháp lý và cơ sở lý luận
Khóa luận thuộc chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự, áp dụng phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp phân tích chuẩn tắc pháp lý (doctrinal legal research). Hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản được trích xuất trực tiếp trong nghiên cứu gồm có:
- Văn bản hiến định và lập pháp:
- Hiến pháp năm 2013 (khoản 4 Điều 31 về quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa).
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các điều khoản trọng tâm: Điều 26, 32, 72, 73, 74, 76, 79, 108, 109, 126, 291, 312, 314, 315, 316, 320, 322, 331).
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (dùng đối chiếu, so sánh tại Điều 58, 190, 215).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 21 về người chưa thành niên, Điều 33 về khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, Điều 156 về sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan, Điều 274 về nghĩa vụ).
- Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012: Điều 5 về nguyên tắc hành nghề, Điều 9 về các hành vi nghiêm cấm, Điều 21 về quyền của luật sư, Điều 26 về hợp đồng dịch vụ pháp lý).
- Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 (Điều 22 về quyền gặp người bị tạm giữ, tạm giam của NBC).
- Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018.
- Văn bản dưới luật và văn bản chuyên ngành:
- Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2018 quy định về quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ với cơ quan tiến hành tố tụng.
- Quyết định số 1180/QĐ-TTg ngày 04/08/2010 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật trong ngành Kiểm sát nhân dân.
- Bộ quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2019 (ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội đồng Luật sư toàn quốc: Quy tắc 11, 13, 15, 27.2).
- Học thuyết và nghiên cứu học thuật liên quan:
- Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên, 2022).
- Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, 2001).
- Các công trình chuyên khảo, luận án tiến sĩ về chức năng bào chữa, nguyên tắc tranh tụng của PGS.TS. Võ Khánh Vinh, TS. Phan Trung Hoài (2016), TS. Nguyễn Văn Tuân (2001, 2018), TS. Ngô Thị Ngọc Vân (2016), TS. Lê Minh Đức (2020), TS. Nguyễn Văn Hiển (2010).
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng hệ thống phương pháp luận duy vật biện chứng, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, cải cách tư pháp. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Làm rõ các khái niệm, quy định pháp luật và cơ sở lý luận; so sánh đối chiếu giữa BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003, giữa BLTTHS với Luật Luật sư, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam nhằm đánh giá sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống văn bản.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống pháp lý điển hình: Phân tích các trường hợp thực tiễn phát sinh trong hoạt động lấy lời khai, hỏi cung, thu thập chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa.
- Phương pháp thống kê: Tập hợp, xử lý các nguồn dữ liệu văn bản, tài liệu khoa học để đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về chế định NBC và địa vị pháp lý của NBC trong tố tụng hình sự:
- Khái niệm và chủ thể của người bào chữa: Sau khi điểm qua lịch sử lập pháp từ Sắc lệnh ngày 10/10/1945 quy định tổ chức các đoàn luật sư và phân tích các quan điểm của các học giả (Hoàng Thị Minh Sơn, Nguyễn Ngọc Chí, Võ Khánh Vinh, Trần Văn Bảy), tác giả tổng hợp khái niệm: NBC là người đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện luật định, được người bị buộc tội hoặc người thân thích nhờ, hoặc cơ quan THTT chỉ định và được chấp nhận đăng ký bào chữa để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS), bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa.
- Bốn nhóm đối tượng được làm người bào chữa (khoản 2 Điều 72 BLTTHS năm 2015):
- Luật sư: Chủ thể tham gia tố tụng độc lập, mang tính chuyên nghiệp cao.
- Người đại diện của người bị buộc tội: Cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần; đại diện pháp luật của pháp nhân thương mại.
- Bào chữa viên nhân dân: Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe, do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên cử để bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.
- Trợ giúp viên pháp lý: Viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, thực hiện bào chữa miễn phí cho 14 nhóm đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định pháp luật.
- Các trường hợp không được làm người bào chữa (khoản 4 Điều 72): Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; người đang bị truy cứu TNHS, người bị kết án chưa được xóa án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
- Lý luận về quyền và nghĩa vụ của NBC:
- Quyền của NBC: Tổng thể những quyền năng pháp lý được Nhà nước trao cho NBC thông qua quy phạm pháp luật để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội, giảm nhẹ TNHS cho người bị buộc tội. Quyền mang tính pháp lý được bảo đảm thực thi và có tính thừa nhận về mặt xã hội.
- Nghĩa vụ của NBC: Hành vi mang tính bắt buộc mà NBC phải thực hiện hoặc không được thực hiện nhằm bảo vệ quyền lợi của người được bào chữa và lợi ích chung của xã hội. Quan hệ giữa NBC và người được bào chữa là quan hệ "nhờ và nhận" mang tính ràng buộc pháp lý, hình thành nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm chuyên môn, nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ bảo đảm trật tự tố tụng.
- Cơ sở quy định quyền và nghĩa vụ:
- Cơ sở lý luận: Nghĩa vụ bảo đảm quyền của chủ thể khác; quyền bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; quyền và nghĩa vụ là thể thống nhất không tách rời; là căn cứ pháp lý để xử lý trách nhiệm khi có vi phạm; bảo đảm hoạt động nghề nghiệp của NBC.
- Cơ sở thực tiễn: Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ quyền con người đối với bên yếu thế trong quan hệ với quyền lực nhà nước; đồng thời ngăn chặn các hành vi tiêu cực trên thực tế như NBC nhận thù lao rồi bỏ mặc khách hàng, tự ý từ chối bào chữa không lý do chính đáng, xúi giục khai sai, làm sai lệch chứng cứ, tiết lộ thông tin cá nhân của người bị buộc tội hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện 14 quyền (khoản 1 Điều 73) và 07 nghĩa vụ (khoản 2 Điều 73 BLTTHS năm 2015):
1. Quy định về quyền của người bào chữa
- Quyền gặp, hỏi người bị buộc tội (điểm a khoản 1 Điều 73): Áp dụng đối với cả người tại ngoại và người đang bị tạm giữ, tạm giam. Khắc phục hạn chế của Điều 58 BLTTHS 2003 (chỉ quy định gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam). Quyền này được cụ thể hóa tại Điều 22 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT; NBC có quyền chủ động tiếp cận, không bị khống chế thời gian và số lần gặp (trừ trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia theo Điều 74).
- Quyền có mặt khi lấy lời khai, hỏi cung và quyền hỏi (điểm b khoản 1 Điều 73): NBC có quyền đương nhiên có mặt; quyền hỏi trong lúc lấy lời khai/hỏi cung phụ thuộc vào sự đồng ý của Điều tra viên/Kiểm sát viên; sau khi kết thúc buổi lấy lời khai, hỏi cung thì NBC có quyền hỏi trực tiếp người bị bắt, bị tạm giữ, bị can.
- Quyền có mặt trong các hoạt động điều tra khác (điểm c khoản 1 Điều 73): Bao gồm đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra... Đây là quyền chủ động của NBC, không còn phụ thuộc vào sự chấp thuận của Cơ quan điều tra như quy định năm 2003.
- Quyền được thông báo trước về thời gian, địa điểm (điểm d khoản 1 Điều 73, Điều 79): Quy định trách nhiệm bắt buộc của cơ quan THTT phải báo trước trong thời hạn hợp lý cho NBC.
- Quyền xem biên bản hoạt động tố tụng, quyết định tố tụng (điểm đ khoản 1 Điều 73): Giúp NBC giám sát tính hợp pháp của các thủ tục điều tra, kịp thời phát hiện sai phạm để khiếu nại.
- Nhóm quyền đề nghị (điểm e, điểm g khoản 1 Điều 73):
- Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền THTT, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, dịch thuật;
- Đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh) và biện pháp cưỡng chế (áp giải, dẫn giải, kê biên, phong tỏa);
- Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng, triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền THTT (quyền hoàn toàn mới nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và gỡ tội).
- Quyền thu thập, kiểm tra, đánh giá và đưa ra chứng cứ (điểm h, i, k khoản 1 Điều 73; Điều 26, 108): BLTTHS 2015 đã phá vỡ sự độc quyền thu thập chứng cứ của cơ quan THTT. Chứng cứ do NBC thu thập được chuyển giao cho cơ quan THTT đưa vào hồ sơ vụ án và có giá trị chứng minh bình đẳng, phải được kiểm tra, đánh giá toàn diện, khách quan theo quy định tại Điều 108.
- Quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa (Điều 320, 322): Không bị hạn chế về mặt thời gian; Kiểm sát viên có trách nhiệm đối đáp đến cùng với từng quan điểm của NBC; Hội đồng xét xử phải ghi nhận đầy đủ ý kiến và nêu rõ lý do trong bản án nếu không chấp nhận; Điều 291 quy định bắt buộc hoãn phiên tòa khi vắng mặt NBC trong vụ án chỉ định bào chữa (trừ khi bị cáo/đại diện đồng ý xử vắng mặt).
- Quyền khiếu nại và quyền kháng cáo độc lập (điểm n, o khoản 1 Điều 73; Điều 32, 331): Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án độc lập với ý chí của bị cáo nhằm bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.
2. Quy định về nghĩa vụ của người bào chữa
- Sử dụng mọi biện pháp hợp pháp để làm sáng tỏ tình tiết vụ án (điểm a khoản 2 Điều 73): NBC chỉ được thực hiện các biện pháp pháp luật cho phép; nghiêm cấm mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục khai báo gian dối.
- Trợ giúp pháp lý cho người bị buộc tội (điểm b khoản 2 Điều 73): Giải thích quyền, nghĩa vụ, hỗ trợ tâm lý, hướng dẫn khiếu nại khi phát hiện bức cung, nhục hình.
- Không được từ chối bào chữa khi đã đảm nhận (điểm c khoản 2 Điều 73): Ngoại trừ lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan (Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, Quy tắc 11, 13, 15 Bộ quy tắc đạo đức luật sư).
- Tôn trọng sự thật khách quan (điểm d khoản 2 Điều 73): Cấm tạo dựng chứng cứ giả, làm sai lệch hồ sơ (đồng bộ với Điều 9 Luật Luật sư).
- Có mặt theo giấy triệu tập (điểm đ khoản 2 Điều 73): Phải có mặt theo triệu tập của Tòa án; trong án chỉ định (Điều 76), bắt buộc phải có mặt theo yêu cầu của cả Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát (điểm mới của BLTTHS 2015).
- Không tiết lộ bí mật điều tra (điểm e khoản 2 Điều 73): Căn cứ theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018 và danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật trong ngành Kiểm sát (Quyết định 1180/QĐ-TTg).
- Bảo vệ bí mật thông tin của người bị buộc tội (điểm g khoản 2 Điều 73): Không tiết lộ thông tin vụ án, bí mật cá nhân của khách hàng nếu không có văn bản đồng ý; không sử dụng thông tin vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.
| Tiêu chí so sánh |
Quy định tại BLTTHS năm 2003 |
Quy định tại BLTTHS năm 2015 |
| Quyền gặp, hỏi người bị buộc tội |
Chỉ quy định quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam (điểm e khoản 2 Điều 58). |
Mở rộng cho phép gặp và hỏi cả người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang tại ngoại hoặc đang bị tạm giam (điểm a, b khoản 1 Điều 73). |
| Tham gia các hoạt động điều tra |
Phụ thuộc vào sự cho phép, đồng ý của Điều tra viên (điểm a khoản 2 Điều 58). |
Được xác định là quyền chủ động của NBC; cơ quan THTT có nghĩa vụ báo trước thời gian, địa điểm (điểm c, d khoản 1 Điều 73; Điều 79). |
| Quyền về chứng cứ |
Chỉ được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người thân thích (khoản 2 Điều 58). |
Trực tiếp thu thập chứng cứ từ người biết việc, yêu cầu cơ quan/tổ chức cung cấp dữ liệu điện tử; có quyền kiểm tra, đánh giá chứng cứ bình đẳng với bên buộc tội (điểm h, i, k khoản 1 Điều 73). |
| Nghĩa vụ có mặt theo triệu tập |
Chỉ quy định nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án (điểm b khoản 3 Điều 58). |
Bổ sung nghĩa vụ phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong trường hợp chỉ định người bào chữa theo khoản 1 Điều 76 (điểm đ khoản 2 Điều 73). |
| Bảo vệ bí mật thông tin khách hàng |
Chưa được ghi nhận trực tiếp, cụ thể trong điều luật về nghĩa vụ của NBC. |
Quy định thành nghĩa vụ độc lập: Không được tiết lộ thông tin về vụ án, người bị buộc tội trừ khi có đồng ý bằng văn bản (điểm g khoản 2 Điều 73). |
Chương 3: Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam và giải pháp nâng cao chất lượng
- Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ:
- Kết quả đạt được: Việc mở rộng quyền đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để NBC tham gia sớm vào các giai đoạn tố tụng; nâng cao vai trò tranh tụng tại phiên tòa; tỷ lệ án oan sai được kiềm chế; vị thế của luật sư và trợ giúp viên pháp lý được củng cố.
- Hạn chế, vướng mắc: Về phía cơ quan THTT, một số nơi vẫn gây khó khăn khi cấp thông báo đăng ký bào chữa; chậm trễ hoặc không báo trước thời gian lấy lời khai, hỏi cung; hạn chế thời gian và điều kiện tiếp xúc với can phạm. Về phía NBC, vẫn còn hiện tượng luật sư thiếu trách nhiệm, vắng mặt tại phiên tòa không lý do chính đáng, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, hứa hẹn chạy án hoặc làm lộ lọt thông tin.
- Nguyên nhân: Do nhận thức pháp luật và tâm lý xem nhẹ vai trò của NBC ở một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng; quy định pháp luật về cơ chế xử lý vi phạm đối với hành vi cản trở NBC chưa đủ sức răn đe; trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức của một số NBC chưa đáp ứng yêu cầu.
- Giải pháp đề xuất:
- Hoàn thiện pháp luật: Bổ sung chế tài xử lý cụ thể đối với hành vi cản trở quyền hành nghề của NBC; quy định rõ ràng thời hạn và thủ tục cấp thông báo đăng ký bào chữa; làm rõ khái niệm "người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần"; quy định chi tiết phạm vi bí mật điều tra để tránh việc lạm dụng hạn chế quyền tiếp cận hồ sơ của NBC.
- Giải pháp thực thi: Tăng cường công tác kiểm sát tư pháp; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tranh tụng và đạo đức nghề nghiệp luật sư; phát huy vai trò tự quản của Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư trong việc giám sát, kỷ luật thành viên.
Kết quả và đóng góp
-
Kết quả nghiên cứu chính:
- Hệ thống hóa toàn diện các luận điểm khoa học về địa vị pháp lý, quyền năng và nghĩa vụ tố tụng của NBC; làm rõ sự gắn kết hữu cơ giữa quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ tố tụng với cơ quan nhà nước và khách hàng.
- Phân tích chi tiết nội dung 14 quyền tại khoản 1 và 07 nghĩa vụ tại khoản 2 Điều 73 BLTTHS năm 2015; chứng minh bước chuyển đổi căn bản từ mô hình tố tụng thẩm vấn thuần túy sang mô hình kết hợp tố tụng tranh tụng dân chủ.
- Luận giải cơ sở pháp lý của các quyền tố tụng mới: quyền thu thập, đánh giá chứng cứ độc lập; quyền yêu cầu cơ quan THTT triệu tập người làm chứng; quyền kháng cáo độc lập cho các đối tượng yếu thế (người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm thể chất, tâm thần).
-
Đóng góp khoa học và thực tiễn do tác giả tự nêu:
- Về mặt lý luận: Bổ sung nguồn tài liệu phân tích có tính hệ thống về quyền và nghĩa vụ của NBC sau khi BLTTHS năm 2015 đi vào thực tiễn áp dụng; giải quyết mối quan hệ giữa chức năng bào chữa (gỡ tội) với chức năng buộc tội và xét xử.
- Về mặt thực tiễn: Đưa ra các căn cứ khoa học giúp các cơ quan tư pháp nhận thức đúng đắn và thực hiện nghiêm túc việc bảo đảm quyền của NBC; cung cấp giải pháp lập pháp nhằm tháo gỡ các xung đột giữa BLTTHS với các đạo luật chuyên ngành (Luật Luật sư, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, đề tài chủ yếu tập trung phân tích dưới góc độ quy định pháp luật thực định (BLTTHS năm 2015) và thực tiễn chung; chưa đào sâu khảo sát số liệu thống kê thực tế về các vụ án hình sự cụ thể theo từng nhóm tội danh; chưa phân tích chi tiết các bản án giám đốc thẩm, tái thẩm liên quan đến sai phạm tố tụng do vi phạm quyền bào chữa.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của NBC theo từng giai đoạn độc lập (giai đoạn khởi tố - điều tra hoặc giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm).
- Khảo cứu so sánh pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam với pháp luật của các quốc gia theo hệ thống tranh tụng (Common Law) và thẩm vấn (Civil Law) về bảo đảm quyền bào chữa.
- Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế trách nhiệm kỷ luật, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm hình sự đối với NBC khi vi phạm nghĩa vụ tố tụng.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Tố tụng hình sự: Tài liệu tham khảo hữu ích cho các học phần Luật Tố tụng hình sự, Kỹ năng hành nghề luật sư, Chế định người bào chữa.
- Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý, Người đại diện: Cung cấp luận cứ, cơ sở pháp lý và các quy tắc ứng xử chuẩn mực khi tham gia bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội tại các giai đoạn tố tụng.
- Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán: Cung cấp góc nhìn phân tích chuẩn mực pháp lý về nghĩa vụ bảo đảm điều kiện làm việc của NBC, phục vụ việc tổ chức các phiên tòa tranh tụng đúng quy định pháp luật.
- Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
- Phân tích chi tiết từng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 73 BLTTHS năm 2015 gắn với các văn bản hướng dẫn áp dụng (Chương 2).
- Luận giải sự phân định giữa quyền gặp/hỏi chủ động với quyền hỏi phụ thuộc vào sự chấp thuận của Điều tra viên/Kiểm sát viên.
- Phân tích các trường hợp kháng cáo độc lập của NBC cho người dưới 18 tuổi và người có khiếm khuyết thể chất, tâm thần theo Điều 331 BLTTHS năm 2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Ai có thể tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bào chữa theo quy định của BLTTHS năm 2015?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 72 BLTTHS năm 2015, có 04 nhóm đối tượng có thể trở thành người bào chữa:
- Luật sư đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư.
- Người đại diện của người bị buộc tội (cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; đại diện pháp luật của pháp nhân).
- Bào chữa viên nhân dân (công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có phẩm chất tốt, có kiến thức pháp lý, được Mặt trận Tổ quốc hoặc tổ chức thành viên cử).
- Trợ giúp viên pháp lý (thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, thực hiện bào chữa cho các đối tượng thuộc diện hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí).
2. So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng quyền của người bào chữa về chứng cứ như thế nào?
Theo điểm h, i, k khoản 1 Điều 73 và Điều 26 BLTTHS năm 2015, NBC được trao quyền thu thập chứng cứ trực tiếp (gặp người làm chứng, bị hại, yêu cầu cơ quan/tổ chức cung cấp tài liệu, dữ liệu điện tử) thay vì chỉ thu thập tài liệu từ bị can và người thân như BLTTHS năm 2003. Đồng thời, NBC có quyền kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ bình đẳng với bên buộc tội; chứng cứ do NBC thu thập có giá trị pháp lý tương đương và cơ quan THTT có nghĩa vụ kiểm tra, đánh giá khách quan theo Điều 108.
3. Người bào chữa có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp nào?
Theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 73 và khoản 2 Điều 331 BLTTHS năm 2015, NBC có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định của Tòa án để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Đây là quyền độc lập của NBC, việc thực hiện kháng cáo không phụ thuộc vào ý chí của bị cáo hay người đại diện hợp pháp của bị cáo, nhưng kháng cáo phải theo hướng có lợi cho bị cáo.
4. Điểm mới về nghĩa vụ có mặt theo triệu tập của người bào chữa trong các vụ án chỉ định là gì?
Theo điểm đ khoản 2 Điều 73 BLTTHS năm 2015, đối với các trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 (vụ án đặc biệt nghiêm trọng có mức án cao nhất là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; hoặc bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm thể chất/tâm thần), NBC không chỉ có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án mà còn bắt buộc phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố.
5. Nghĩa vụ bảo mật thông tin của người bào chữa được quy định như thế nào và có ngoại lệ không?
Theo điểm e và điểm g khoản 2 Điều 73 BLTTHS năm 2015, NBC có hai nhóm nghĩa vụ bảo mật:
- Không được tiết lộ bí mật điều tra biết được khi thực hiện bào chữa; không sử dụng tài liệu sao chụp hồ sơ vào mục đích xâm phạm lợi ích Nhà nước, công cộng, cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi thực hiện bào chữa. Ngoại lệ duy nhất cho phép NBC được công khai thông tin về người bị buộc tội là khi người này đồng ý bằng văn bản.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp đã hoàn thành việc nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và quy định thực định của BLTTHS năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự. Thông qua việc phân tích cụ thể 14 quyền và 07 nghĩa vụ tại Điều 73 gắn với các nguyên tắc tranh tụng, đề tài đã chỉ rõ những bước tiến vượt bậc của pháp luật Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền con người và sự bình đẳng tư pháp. Các phân tích thực tiễn và nhóm giải pháp hoàn thiện được tác giả đề xuất mang giá trị khoa học thiết thực, đóng góp tích cực vào tiến trình cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự hiện hành.