Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TOA HANH CHÍNH TRONG NHÀ NƯỚC PHAP QUYEN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CUA DAN, DO DAN, VÌ DAN 1. NHA NUOC PHAP QUYEN XA HOI CHU NGHIA VIET NAM CUA DAN, DO DAN, Vi DAN 1. Nhận diện Nhà nước pháp quyền 1. Nội hàm của khái niệm Nhà nước pháp quyền (NNPQ) trong lịch sử học thuyết chính trị pháp ly được thé hiện tập trung ở tinh thượng tôn của pháp luật, được ghi nhận trong các tác phẩm của những triết gia nổi tiếng như Socrates (469 - 399 TCN), Platon (427 - 374 TCN), Aristotle (348 - 322 TCN) hay Xixeron (106 - 43 TCN).
Do là những triết gia đầu tiên đưa ra ý niệm về NNPQ. Tuy nhiên, phải bat đầu từ John Lock (1632 - 1740), Charles de Secondat Montesquieu (1689 - 1755), Immanuel Kant (1724 - 1804) va Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831) thi “tính tối cao của pháp luật” trong nhà nước mới được đây lên thành tư tưởng về NNPQ. John Lock trong Chuyên luận thứ hai về chính thể công dân (The Second Treatise of Civil Government, 1690) đã cho rang các quyền tự do, bình dang, tu hữu là những quyền tự nhiên, không thé tước đoạt của con người va Nhà nước ra đời từ sự giao ước chung, dé bảo đảm quyền tự nhiên, tránh sự tranh cãi giữa các công dân. John Lock là người khởi thảo một cách chỉnh thức học thuyết phân quyên [37, tr.
Theo quan điểm của ông, lập pháp là quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước và thuộc về quyền hạn của Nghị viện, quyền hành pháp được trao cho nhà vua. Nhân dân được xem như một lực lượng tiết chế sự lạm dụng quyên lực của Nhà nước. Họ chính là người phân xử cuối cùng những tranh chấp giữa lập pháp và hành pháp và giữa họ với lập pháp hoặc hành pháp bằng quyển nổi loạn — nghĩa là dân chúng không trao toàn bộ quyền lực của mình cho lập pháp mà khi có những sai lầm không thể nào chịu đựng được gây ra cho công dân thì lúc đó nhân dân sẽ sử dụng quyên lực tối cao của mình băng cách dung nên một chính quyền mới hoặc những người mới mà họ cho là tốt đẹp hơn [119, tr. Chủ quyên của nhân dân (la supréme populaire) - quyền lực thuộc về nhân 13 dân và chủ quyền quốc gia (la suprême nationale) - quyền lực thuộc các đảng phái là hai khái niệm có sự phân định rõ ràng trong quan điểm của J.Lock là đề cao tự đo, giới hạn quyền lực nhà nước, xây dựng một co chế nhà nước hữu hiệu.
Đó chính là yếu tố cốt lõi của Nhà nước pháp quyền mà sau đó được Montesquieu tiếp tục phát triển với một bước ngoặt mới trong triết học chính tri. Montesquieu kịch liệt lên án chính thé chuyên chế. Theo ông, trong chính thê chuyên chế, “chi có một người cai trị mà không có luật pháp gì hết, chỉ theo ý chí và sở thích của hắn ta mà thôi" [15, tr. Khi bàn đến nguyên tắc cũng như thê chế pháp luật làm nên nền tảng giữ vững chính thể, ông cho rằng sự suy đôi trong mỗi chính thé bắt đầu từ sự sa doa trong nguyên tắc, rồi thì những pháp luật công minh nhất cũng không còn hiệu lực thi hành.
Phân quyền là tự do chính trị trong quan hệ với hiến pháp. Theo Montesquieu quyền lập pháp là quyên làm luật, sửa đổi hay hủy bỏ luật; quyền hành pháp là quyền quyết định thực thi các vấn đề đối ngoại, chiến tranh, quốc phòng, an ninh, kinh té và tư pháp là quyền trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp. Theo quan điểm của Montesquieu /a không nên có cơ quan tu pháp [37, tr.101] và các quan chức tu pháp thường xuyên, cô định như lập pháp và hành pháp mà nên do đoàn thé cử ra, trong một thời hạn nhất định. Lí do là vì ông muốn xóa di sự sợ hãi trong dân chúng đối với quyền tư pháp từ chế độ quân chủ.
Tuy nhiên, dù tư pháp không có định nhưng án văn và luật phải cố định đến từng điều cụ thé. Khi bàn đến quan hệ giữa ba quyền, Montesquieu cho rằng chúng cần độc lập với nhau. Nếu như quyền lập pháp và hành pháp năm trong tay một cơ quan, cũng như khi quyên tư pháp không tách khỏi hai nhánh quyền lực kia thì sẽ không có tự do, còn nếu như quyên tư pháp nhập với quyền hành pháp thì Toà án sẽ có khả năng trở thành kẻ đàn áp. Nghiêm trọng nhất và cuối cùng tất cả sẽ bị huỷ diệt nêu như cả ba quyên lập pháp, hành pháp và tư pháp nằm trong tay một cơ quan và không nên dé một cá nhân “nhúng tay” vào cả hai quyền lập pháp và hành pháp.
Trong quan niệm của ông, ba nhánh quyên lực nhà nước dù độc lập nhưng ràng buộc lẫn nhau, tạo nên sự vận động chung của toàn bộ hệ thống nhà nước. Toàn bộ lý luận về phân quyền của Montesquieu đều nhằm hạn chế sự tham lam quyền lực và chế ước, chế định lẫn nhau giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. 14 Nếu như Hobbes chủ trương tập trung quyền lực tối cao vào tay nhà vua, John Lock dé cao vai trò của cộng đồng (sau khi “ký kết” khé ước xã hội, cộng đồng vẫn giữ quyền phán xử trong các tranh chấp giữa quyên lập pháp — hành pháp — tư pháp) thi Montesquieu không nói đến quyền lực tối cao, mà nhân mạnh rang “chỉ có một quyên lực khả phân, một quyên lực nhà nước có kiểm soát và sự kiểm soát đó được thực hiện bằng một cơ chế mà các thành phan cua nó nam ngay chính trong cơ cấu của nhà nước” [37, tr. Đó chính là điềm cốt lõi day lý thuyết phân quyền của Montesquieu lên tam của học thuyết về Nha nước.
Montesquieu đi tiên phong trong việc đề ra và giải quyết những vẫn dé cơ bản của lý luận về Nhà nước trong mối quan hệ với quyền lực của nó, là chính thể, lãnh thổ, đặc trưng và chức năng của Nhà nước. Với Montesquieu lần đầu tiên quyền lực nhà nước được xác định cụ thé va day đủ các thành phan cơ bản của bộ máy nhà nước — các co quan thực hiện quyên lập pháp, cơ quan thực hiện quyền hành pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Bằng cơ cấu tam quyền, các cơ quan quyền lực nhà nước ước chế lẫn nhau một cách khép kín, mỗi thành phần có quan hệ trực tiếp, vừa trung gian điều tiết với cơ quan khác và thành phần thứ ba của bộ máy. Mối tương quan của các nhánh quyền lực đó sẽ ngăn ngừa tình trạng chuyên quyền đã từng xảy ra trong chế độ chuyên chế, ngăn chặm sự lạm quyên.
Sự kiểm soát quyền lực trong quan niệm của Montesquieu không đến từ bên ngoài mà nằm ngay trong chính cau trúc va quyén lực của nhà nước, được thực hiện một cách thường xuyên. Do là sự kiểm soát tự thân của quyên lực nhà nước, tự Nhà nước kiểm soát Nhà nước, tự quyên lực kiểm soát quyền lực [31, tr. Đó là cuộc cách mạng về quyên lực. Khi đề cập đến quyền lực nhà nước, Montesquieu luôn đặt nó trong quan hệ với mặt đối lập của nó - các cá nhân trong xã hội.
Quan hệ giữa Nhà nước và công dân được Montesquieu giải quyết thông qua các van đề thuộc phạm vi của các phạm trù bình đăng, tự do, dân chủ [37, tr. Nếu như Hobbes, J.Lock va ca Rousseau sau nay déu cho rang binh dang duoc thiét lap bang việc tạo lập một thỏa ước ngầm và vô hình thì Montesquieu chủ trương hiện thực hóa bình đẳng trong xã hội dựa trên pháp luật, bảo đảm bằng pháp luật và khi cần giảm bất bình đăng trong xã hội thì ông không chủ trương kêu gọi về mặt dao đức mà bang sự điều tiết của nhà nước thông qua công cụ pháp luật. Pháp luật đó phải là pháp luật dân chủ, tức là công cụ thực tê và hiệu quả đảm bảo cho nên dân chủ, cho 15 bình đăng, tự do, công lý. Dân chủ của Montsquieu là dan chủ pháp quyên [37, tr.115] trong đó vai trò đầu tiên là của Hiến pháp và sau đó là của một hệ thống pháp luật dân chủ.
Nền dân chủ thực sự là một nền dân chủ được duy trì bởi một bộ máy hành pháp và tư pháp mạnh, bảo đảm được sự bình đăng, tự do và dân chủ của mọi công dân. Quan niệm về dân chủ của Montesquieu đóng vai trò quan trọng trong học thuyết về quan hệ giữa công dân với Nhà nước mà cốt lõi là nền pháp luật dân chủ và có hiệu quả. Một điểm rất quan trọng trong học thuyết của Montesquieu về Nhà nước pháp quyền đó là: van dé tự do, bình dang, dân chủ của công dân được nâng lên thành quyền chính trị - xã hội của công dân. Đó không là quyền tự nhiên mà là quyền có được từ sự hiến định, pháp định và tồn tại trong thực tế.
Đây chính là nền móng cơ bản cho cả một quá trình nhận thức của nhân loại về quyền con người, quyền công dân và việc hiện thức hóa chúng. Nhân dân tham gia vào kiểm soát nhà nước bằng quyền định đoạt nhân sự của bộ máy nhà nước thông qua lá phiếu và thông qua quyền tự do ngôn luận. Đến thế kỷ 19, người Đức tự hào với Những cơ sở triết học cho học thuyết về nhà nước pháp quyên của Immanuel Kant. Trong tác phẩm này, Kant cho rằng ý chí tự do của mỗi cá nhân là nguồn gốc của pháp quyền và đạo đức.
Pháp luật được làm ra dé bảo vệ các quan hệ văn minh của con người. Nhà nước trong toàn bộ hoạt động của mình phải dựa trên pháp luật. Nhà nước là sự hợp nhất của những người biết phục tùng những đạo luật được xây dựng dựa trên nguyên tắc chủ quyền nhằm bảo vệ trật tự xã hội. Theo quan điểm của Kant, Nhà nước trong đó có sự phân công quyền lực là NNPQ, ngược lại là Nhà nước độc tài.
Sự diéu hòa, phối hợp của ba nhánh quyên lập pháp, hành pháp và tư pháp chính là khả năng ngăn chặn chế độ độc tài, chuyên chế. Trọng tâm trong quan điểm của Kant là nguyên tắc phân công quyền lực. Chui quyên của nhân dân chỉ có thé thể hiện thông qua sự phân công quyên lực đó và nếu nhân dân có chủ quyên thì Nhà nước mới được gọi là “của nhân dân”. Lý luận về NNPQ được phát triển cao ở Heghen trong Triết học pháp quyền.