CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Hypericum L. Vị trí phân loại của chi Hypericum L. Vị trí phân loại của họ Ban (Hypericaceae) Bảng 1.1: Vị trí phân loại của họ Ban (Hypericaceae) Tác giả Robson (1977, 1981,1985, 1987, Bậc phân loại A.
IV (2016) Bậc phân loại 1990) Ngành Nhánh (clade) Angiospermae Equisetopsida C. Lớp Nhánh Eudicots Agardh Magnoliidae Novák Phân lớp Nhánh Rosids ex Takht Malpighiales Juss. Bộ Bộ Malpighiales ex Bercht. Presl Họ Hypericaceae Họ Hypericaceae Họ Ban (Hypericaceae) được Antoine Laurent de Jussieu đưa ra năm 1789 là một họ thực vật có hoa bao gồm khoảng 6 - 9 chi và 477 - 590 loài các cây thân thảo sống một năm hoặc lâu năm hay cây bụi [3].
Lá của chúng mọc đối với các đốm trong suốt hay sẫm màu, mép lá nhẵn, bộ nhị thường tụ lại thành chùm, núm nhụy đôi khi có nhũ rõ ràng và hạt nhỏ (thường dài không quá 4 mm). Họ này phân bố rộng khắp thế giới, trước đây được gộp chung như là phân họ Hypericoideae trong họ Bứa (Clusiaceae) [4], [5], [6]. Theo hệ thống phân loại thực vật có hoa hiện đại Angiosperm Phylogeny Group System (APG II), họ này thuộc về bộ Sơri (Malpighiales). Năm 2009, hệ thống phân loại APG III dựa trên phân tích nhiều trình tự ADN thuộc các gen đặc trưng, phản ánh sự tiến hóa của các loài như gen mã hóa lục lạp, ti thể và nhân ribosom [7].
Hệ thống này cho 3 phép dự đoán tốt hơn các hệ thống phân loại trước đó bởi các nhóm phản ánh được mối quan hệ tiến hóa của thực vật có hoa. Đối với các bậc phân loại trên đất liền, APG sử dụng thuật ngữ “Nhánh - Clade” thay cho các bậc phân loại truyền thống (trên bộ, phân lớp, lớp, ngành…) vốn thường bị giới hạn về số lượng. Cũng theo hệ thống này, phân họ Hypericaceae không còn thuộc họ Clusiaceae (hoặc Guttiferae) nữa mà được tách ra thành một họ riêng biệt thuộc bộ Sơri (Malpighiales). Trong hệ thống APG IV phiên bản mới nhất năm 2016, họ Hypericaceae được đặt vào các nhánh theo thứ tự là Rosids → Eudicots → Angiospermae → Tracheophytes [8].
Vị trí phân loại của chi Hypericum L. Vị trí phân loại của chi Hypericum L. Tác giả Robson Kimura (1977, APG III APG IV Robson Đơn vị (1951) 1981,1985, (2009) (2016) (2016) phân loại 1987, 1990) Họ Guttiferae Guttiferae Hypericaceae Hypericaceae Hypericaceae Phân họ Hypericaceae Hypericaceae Chi Hypericum Hypericum Hypericum Hypericum Hypericum Hypericum L. (Hypericum) là một chi gồm khoảng 450 loài cây gỗ, cây bụi và thảo mộc xuất hiện ở tất cả các vùng ôn đới trên thế giới nhưng chỉ có một loài ở miền nam Nam Mỹ và hai loài ở Úc và New Zealand.
Các loài của chi này không xuất hiện ở các môi trường sống quá khô, nóng hoặc lạnh. Ở vùng nhiệt đới, chúng hầu như chỉ xuất hiện ở những nơi có độ cao lớn. Hầu hết các loài của chi Hypericum có thể được nhận biết bởi toàn bộ các lá mọc đối nhau, có chứa các tuyến tiết trong suốt có màu đen hoặc đỏ. Hoa có bao hoa mẫu 5 bao gồm các lá đài màu xanh lục, màu vàng, đôi khi có màu đỏ, cánh hoa thường nhuốm màu đỏ, nhị hoa thành 3 - 5 bó hoặc chùm và một bầu nhụy có 3 - 5 kiểu mảnh (tự do hoặc hợp nhất).
Quả hình mũ chứa nhiều hạt nhỏ hình trụ [7]. 4 Chi Hypericum là một trong 9 chi tạo thành họ Hypericaceae thuộc nhánh clusioid của bộ Malpighiales. Nhánh Clusioid bao gồm các họ Bonnetiaceae, Calophyllaceae, Clusiaceaes, Podostem và Hypericaceae, đại diện bởi 94 chi và khoảng 900 loài. Bộ Malpighiales gồm khoảng 16000 loài, là một bộ lớn của thực vật có hoa, nằm trong nhánh hoa hồng [9], [10].
Bộ Malpighiales tạo thành một nhóm chiếm tỷ lệ lớn các loài trong tầng cây bụi và cây nhỏ trong rừng mưa nhiệt đới [11]. Hầu hết các họ trong bộ Malpighiales chỉ phân bố chủ yếu ở vùng khí hậu nhiệt đới nhưng một số họ đã vượt ra khỏi vùng nhiệt đới và đã phát triển, tồn tại ở vùng ôn đới phía bắc, bao gồm họ Violaceae (hoa violet), họ Salicaceae (liễu) và chi Hypericum [12]. Trong họ Hypericaceae, ba tông Cratoxyleae (gồm 7 loài, phân loại thành Cratoxylum và Eliea), Hypericeae (khoảng 494 loài, phân loại thành Hypericum, Lianthus, Santomasia, Thrnea, và Triadenum) và Vismieae (khoảng 102 loài, phân loại thành Harungana và Vismia) được công nhận, phù hợp với các phân tích phân tử. Chi Hypericum cùng với chi Triadenum và chi Lianthus là nhóm duy nhất của nhánh Clusioid phân bố ở vùng ôn đới.
Tất cả các thành viên khác đều có nguồn gốc từ các vùng đất thấp nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới trên thế giới [13], [14]. Năm 1951, Kimura trong hệ thống phân loại chưa đầy đủ của mình đã xếp chi Hypericum thuộc phân họ Hypericeae của họ Guttiferae [4]. Sau này, Robson trong các nghiên cứu của mình đã phân loại chi Hypericum thuộc họ Clusiaceae (tên khác là Guttiferae) với nhiều đặc điểm tương đồng với hầu hết các chi khác của họ, bao gồm lá mọc đối, trong lá xuất hiện các tuyến tiết, cánh hoa tự do, nhị hoa có cuống và hạt thiếu nội nhũ [5], [6]. Tuy nhiên, theo hệ thống phân loại thực vật có hoa hiện đại APG, họ này thuộc về họ Ban (Hypericaceae), bộ Sơri (Malpighiales) [7], [8].
Năm 2009, các thành viên của Hiệp hội Linnaeus đã đề xuất xây dựng cây phát sinh chủng loài chính thức cho toàn bộ thực vật trên cạn tương thích với hệ thống phân loại APG III, tuy nhiên, phân loại chi 5 Hypericum thuộc họ Hypericaceae vẫn được giữ nguyên và tiếp tục tồn tại trong hệ thống phân loại APG IV [7]. Hiện nay, Robson cũng đã công nhận hệ thống phân loại APG IV, theo đó, chi Hypericum thuộc họ Hypericaceae [15]. Phân bố của chi Hypericum L. Trên thế giới Hầu hết các loài của chi Hypericum phân bố khắp Bắc bán cầu, rừng nhiệt đới Nam Mỹ và Nam Phi, Madagascar, Đông Nam Á, chỉ trừ vùng Bắc Cực hay sa mạc.
Một số loài cũng xuất hiện ở Australia và Châu Đại Dương. Trung tâm phân bố đa dạng nhất của chi Hypericum được tìm thấy ở khu vực Palaearctic, bao gồm đại lục Á - Âu và Bắc Phi, nơi hơn 45% các loài được mô tả là bản địa. Tâm thứ hai nằm trong khu vực Neotropic trải dài từ Trung đến Nam Mỹ, với khoảng 30% số loài. Các khu vực khác như Bắc Mỹ, Nam Á và Đông Nam Á, Trung và Nam Phi có ít sự đa dạng hơn so với 2 khu vực lớn phía trên.
Mặc dù vậy, đặc điểm chung của các loài thuộc chi Hypericum là thường sống ở khí hậu mát mẻ, ở các vùng nhiệt đới thì sống ở vùng núi cao [16], [17]. Một số loài của chi Hypericum được tìm thấy trong một phạm vi khá hẹp chủ yếu ở phía nam Nhật Bản, Đài Loan, trung và nam Trung Quốc, miền trung Myanmar và vùng Meghalaya (miền đông Ấn Độ). Ở Trung Quốc, loài này được tìm thấy ở An Huy, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Giang Tây, Thiểm Tây và Tứ Xuyên. Chúng thường xuất hiện ở các bụi rậm, các khu vực thảm cỏ, ven sông và những nơi gần đất canh tác, ở độ cao 100 - 1700 mét so với mực nước biển [18].
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, chi Hypericum được biết đến phổ biến với tên gọi là chi Ban trong các bài thuốc y học cổ truyền. Phạm Hoàng Hộ là người tổng hợp và mô tả đầy đủ nhất đặc điểm cũng như phân bố của các loài Ban được tìm thấy ở Việt Nam. Theo ông, chi Ban ở Việt Nam có 7 loài là những cây ưa ẩm và ưa sáng, thường mọc ở ven rừng, bãi đất trống trong thung lũng, trên nương rẫy hay ruộng 6 cao. Vùng phân bố chủ yếu là ở các tỉnh miền núi phía bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hòa Bình, Hà Nội, Sơn La, Lào Cai, Đà Lạt và Lâm Đồng.
Độ cao phân bố từ 400 - 800 m. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm. Cây con mọc từ hạt thường thấy vào cuối mùa xuân đến giữa mùa hè và cây trồng được bằng hạt [1]. Các loài của chi Ban cũng được thống kê và đề cập trong các nghiên cứu về các loài thực vật có tác dụng sinh học ở Việt Nam.
Năm 2003, Averyanov và cộng sự khi nghiên cứu về thực vật có hoa ở miền núi phía bắc Việt Nam đã ghi nhận được loài Hypericum hookerianum tại khu vực vùng núi Hoàng Liên Sơn tỉnh Lào Cai [19]. Ngoài ra, trong một nghiên cứu khác đã ghi nhận loài Hypericum uralum ở khu vực Đà Lạt, Lâm Đồng và các tỉnh miền Nam [20], [21]. Năm 2006, một loài khác thuộc chi Ban là Hypericum japonicum cũng được đề cập trong bộ sưu tập cây thuốc Việt Nam của Đỗ Huy Bích và cộng sự, đã ghi nhận sự phân bố chủ yếu của chúng tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam [2]. Mặc dù vậy, thống kê đầy đủ nhất vẫn thuộc về nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ.
Danh sách các loài Ban phân bố ở Việt Nam được trình bày như trong bảng 1. Danh sách các loài thuộc chi Hypericum L. TT Tên khoa học Tên tiếng Việt Phân bố Trích dẫn H. japonicum Sống ở ruộng, nơi ẩm.
Sapa, 1 Ban Nhật [1], [2] Thunb. ex Murray Huế, Đà Lạt 2 H. Ban Rổ Sapa [1] H. hookerianum 3 Ban hooker Sapa [1], [20] Wight & Arn H.
napaulense 4 Ban Nepan Vùng núi [1] Choisy H.- 5 Ban tràn Đà Lạt, Lâm Đồng [1], [20] Ham. Ban có cuống Sông Đà Hòa Bình [1] Ban Sầm sơn, Hà Nam, Nam Định, Ninh H. sampsonii 7 Ban lá dính, Lưu ký Bình, Hà Nội, Hà Tây, Sơn [1] Hance nô, Nguyên bản thảo Tây, Bắc Kạn 7 1. Đặc điểm thực vật chi Hypericum L.
Cây bụi, cây hàng năm hoặc lâu năm và một số cây bụi cao đến 12 m. Lá sáng bóng hoặc có lông đơn giản, có gân lá hoặc các hốc, nốt sần (dạng đục lỗ) có chứa nhựa (màu hổ phách), tinh dầu và hyperforin (các hốc mờ hoặc trong suốt), hypericin và dẫn xuất (các nốt sần đỏ đến hơi đen) [9], [22]. Thân có màu xanh lục đến nâu vàng hoặc đỏ, nhựa ruồi ở một số loại thảo mộc hoặc có 2, 4, hoặc 6 đường gân nổi lên dọc theo mỗi lóng khi còn non (những đường này mọc từ gân giữa của lá, phía trên thường nổi rõ nhất và đôi khi mở rộng ra để tạo thành cánh hẹp), cuối cùng là mụn nước hoặc các tuyến nhạt màu hoặc sậm màu. Vỏ cây mịn, màu nâu đỏ đến nâu tía hoặc bạc, mỏng, dai hoặc tróc vảy thành từng mảng [21].
Lá mọc đối hay hình chùm, đôi khi mọc thành chùm xen kẽ từ 3 – 4 lá.