Nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng chống viêm loét dạ dày của phân đoạn ethylacetat từ cây loã trai trần (Murdannia nudiflora) - Luận văn Thạc sĩ Dược học

Dưới đây là meta tags cho bài viết của bạn: { "ai_description": "Nghiên cứu thành phần hoá học và tác dụng chống viêm loét dạ dày của phân đoạn dịch chiết

Tác giả

Ngô Thanh Huyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2025

118
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan

Ngô Thanh Huyền, một nhà nghiên cứu dược học, đã thực hiện luận văn thạc sĩ với chủ đề 'Nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng chống viêm loét dạ dày của phân đoạn dịch chiết ethylacetat từ cây loã trai trần Murdannia nudiflora l. Brenan'. Bài viết này sẽ trình bày các kết quả của nghiên cứu này và cách ứng dụng chúng trong y học.

1.1. Phân tích thành phần hóa học

Ngô Thanh Huyền đã nghiên cứu thành phần hóa học của Murdannia nudiflora bằng phương pháp chiết dịch ethylacetat. Kết quả cho thấy Murdannia nudiflora chứa nhiều chất hoạt động sinh học, bao gồm flavonoid, fenol, saponin, và terpenoid.

1.2. Tác dụng chống viêm và chống loét

Nghiên cứu đã chứng minh rằng chiết dịch ethylacetat từ Murdannia nudiflora có tác dụng chống viêm và chống loét dạ dày. Nó giảm bớt viêm và loét dạ dày ở chuột thí nghiệm, và có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh loét dạ dày.

II. Vấn đề Thách thức

Loét dạ dày là một trong những bệnh lý tiêu hóa phổ biến và thường gây đau đớn, khó chịu cho bệnh nhân. Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị loét dạ dày, nhưng vẫn cần tìm kiếm các phương pháp mới và hiệu quả hơn.

III. Phương pháp Giải pháp chính

Nghiên cứu của Ngô Thanh Huyền đã chứng minh rằng Murdannia nudiflora có tác dụng chống viêm và chống loét dạ dày, và có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh loét dạ dày. Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu để xác định liều lượng và thời gian điều trị tối ưu, cũng như để kiểm tra an toàn và hiệu quả của phương pháp điều trị này ở người.

IV. Ứng dụng thực tế Kết quả nghiên cứu

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy Murdannia nudiflora có thể trở thành một nguồn dược liệu hiệu quả cho điều trị loét dạ dày. Chiết dịch ethylacetat từ Murdannia nudiflora có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị bổ sung cho bệnh loét dạ dày, và có thể giúp giảm đau đớn và khó chịu cho bệnh nhân.

V. Kết luận Tương lai của chủ đề

Nghiên cứu của Ngô Thanh Huyền đã chứng minh rằng Murdannia nudiflora có tác dụng chống viêm và chống loét dạ dày, và có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh loét dạ dày. Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu để xác định liều lượng và thời gian điều trị tối ưu, cũng như để kiểm tra an toàn và hiệu quả của phương pháp điều trị này ở người.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Ngô thanh huyền nghiên cứu thành phần hoá học và tác dụng chống viêm loét dạ dày của phân đoạn dịch chiết ethylacetat từ cây loã trai trần murdannia nudiflora l brenan luận văn thạc sĩ dược học

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng 1. Định nghĩa và dịch tễ học viêm loét dạ dày tá tràng Viêm loét dạ dày tá tràng là những tổn thương của lớp niêm mạc, có thể xâm lấn sâu xuống lớp dưới niêm mạc. Vị trí hay gặp nhất là bờ cong nhỏ, hang vị, môn vị và hành tá tràng.

Viêm loét dạ dày tá tràng là bệnh mạn tính thường tái phát, có thể gây biến chứng như chảy máu, thủng dạ dày, hẹp môn vị, hoặc hiếm hơn có thể tiến triển thành ung thư [9]. Tình trạng bệnh lí viêm và mất tổ chức niêm mạc có giới hạn ở phần ống tiêu hóa có bài tiết acid và pepsin [12]. Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng khá phổ biến, ước tính có khoảng 5-10% dân số toàn Thế giới bị mắc bệnh này, trong đó bệnh thường gặp ở nam nhiều hơn nữ [2]. Ở Nhật, tỷ lệ viêm loét dạ dày giữa nam và nữ là 3/1, còn loét tá tràng là 2/1.

Ở Tây Ban Nha, tỷ lệ này là 6/1 [12]. Theo Tổ chức y tế thế giới, đây là bệnh có tỷ lệ mắc đứng hàng đầu trong số các loại bệnh đường tiêu hoá, bệnh thường tái diễn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân, bệnh có nhiều biến chứng nguy hiểm như xuất huyết tiêu hoá, thủng dạ dày, ung thư dạ dày, hẹp môn vị và có thể tử vong nếu không được cấp cứu, điều trị kịp thời. Viêm loét dạ dày tá tràng ngày càng có xu hướng tăng. Ở Việt Nam, số người mắc bệnh này chiếm 5-7% dân số cả nước, tuổi mắc nhiều nhất là từ 20-40 [12].

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh viêm loét dạ dày tá tràng Viêm loét dạ dày tá tràng là do tổn thương của lớp niêm mạc xuyên qua lớp cơ niêm xuống đến lớp cơ. Đặc điểm của bệnh này là mạn tính và thường hay tái phát, diễn biến có tính chất chu kỳ, nếu không được điều trị triệt để thì sẽ có nguy cơ chuyển thành ung thư. 3 Nguyên nhân chính dẫn tới viêm loét dạ dày tá trạng này do sự mất cân bằng giữa yếu tố tấn công và yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày [9]. pylori là nguyên nhân phổ biến nhất chiếm khoảng 70–90% trường hợp loét dạ dày – tá tràng, vi khuẩn này sống trong lớp nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày và tiết ra enzyme urease gây tổn thương.

pylori không phải là nguyên nhân duy nhất gây loét dạ dày tá tràng. Rượu làm tổn thương lớp nhầy bảo vệ niêm mạc, tăng tiết acid. Thuốc lá làm giảm tưới máu niêm mạc, làm vết loét lâu lành, tăng nguy cơ tái phát. Yếu tố căng thẳng tâm lý (stress) mãn tính mặc dù không trực tiếp gây loét nhưng stress có thể làm tăng tiết acid, co mạch niêm mạc, giảm khả năng bảo vệ.

Chế độ ăn uống thất thường, bỏ bữa, ăn đồ cay nóng, dầu mỡ nhiều, thức khuya, thiếu ngủ cũng góp phần làm mất cân bằng dạ dày. Một số người có cơ địa tăng tiết acid, đặc biệt trong hội chứng Zollinger-Ellison. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm không steroid (NSAIDs) có thể làm giảm sản xuất chất bảo vệ niêm mạc dạ dày (prostaglandin), tăng nguy cơ loét, đặc biệt ở người cao tuổi hoặc dùng kéo dài … Dù bất kỳ nguyên nhân nào, hậu quả vẫn là tăng tái hấp thu ngược chiều ion H+ từ lòng dạ dày vào trong niêm mạc, gây nhiễm acid tại chỗ, phù nề và hoại tử mô, kéo theo sự tiêu protein, gây viêm rồi gây loét. Nồng độ acid trong dịch vị càng cao, thì nguy cơ loét dạ dày càng lớn.

Điều hòa tiết HCl của tế bào thành dạ dày chủ yếu do histamin, acethylcholin và gastrin thông qua bơm H+/K+ ATPase (bơm proton). Các thuốc kháng histamin H2, kháng cholinergic, kháng gastrin hay ức chế bơm proton, đều làm giảm tiết acid dịch vị, đều có tác dụng ức chế loét dạ dày tá tràng. Các prostaglandin ở tế bào thành dạ dày, ngoài chức năng kích thích tiết chất nhày bicarbonat…còn có tác dụng quan trọng trong cơ chế điều hòa ngược chiều, như ức chế adenylcyclase làm giảm AMPc và ức chế giải phóng gastrin, từ đó giảm tiết HCl do histamin và gastrin. Các thuốc kích thích tạo prostaglandin cũng ức chế loét dạ dày tá tràng.

4 Sơ đồ tóm tắt các bước chính của quá trình hình thành ổ loét: Các yếu tố ngoại sinh Các yếu tố nội sinh (HCl, (NSAID, rượu,…) pepsin, dịch mật,…) Hàng rào bào thể thứ nhất: Chất nhày/Bicarbonat Hàng rào bào thể thứ hai: Lớp tế bào biểu mô Hàng rào bào thể thứ ba: Lớp niêm Tổn thương tế bào biểu mô Cách sửa chữa thứ nhất: Tự phục hồi Cách sửa chữa thứ hai: Tái tạo tế bào Hình thành tổn thương cấp tính Cách sửa chữa thứ ba: Lành tổn thương với mô hạt và mao mạch Loét Sơ đồ 1. Các bước chính của quá trình hình thành ổ loét 5 1. Điều trị viêm loét dạ dày tá tràng Mục đích điều trị: Giảm đau, liền sẹo, liền ổ loét, ngăn ngừa tái phát, ngăn ngừa biến chứng [9]. Phương hướng điều trị: Điều trị chứng viêm loét dạ dày tá tràng, phác đồ dùng thuốc là tổng hòa kết hợp đa cơ chế, bao gồm: nhóm trung hòa acid dịch vị với NaHCO3, nhóm ức chế tiết acid dịch vị như kháng H2 (cimetidine), ức chế bơm proton H+ (omeprazole), kháng cholinergic (atropine), kháng gastrin (proglumide).

Cùng với đó, là nhóm thuốc bảo vệ niêm mạc bằng cách bao phủ vết loét như các sucralfate, các bismuth, và tăng tiết nhày thông qua kích thích prostaglandin E2. Với các chứng bệnh có thêm yếu tố nhiễm HP thì việc sử dụng kháng sinh kết hợp được chỉ định như metronidazol [9]. Cải thiện lối sống - chế độ ăn uống: tránh dùng các loại đồ ăn, đồ uống mang tính kích thích như: chua, cay; ăn kiêng cà phê, thuốc lá, rượu, bia,; Tránh stress, cải thiện lối sống, thư giãn. Cải thiện vệ sinh cá nhân và môi trường sống để phòng nhiễm khuẩn.

Nên ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, đồ ăn dễ tiêu, … Điều trị ngoại khoa khi có biến chứng (thủng ổ loét, hẹp môn vị…) [9]. Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng theo Y học cổ truyền: a. Nguyên nhân Theo y học cổ truyền, có 3 nguyên nhân gây viêm loét dạ dày tá tràng [13]: - Tình chí bị kích thích: Do suy nghĩ tức giận quá độ kéo dài làm tổn thương đến can, can không sơ thông, hoành nghịch phạm vị làm cho vị mất chức năng hoà giáng gây bệnh can khí phạm vị hay can tỳ bất hoà, nếu kéo dài thì can khí ứ trệ sinh ra can uất hoá hoả, hoả uất lâu ngày thì vị tích nhiệt 6 làm tổn thương đến vị âm gây ra miệng khô đắng, người bệnh có cảm giác nóng rát vùng thượng vị. - Ăn uống không điều độ: Do no đói thất thường hoặc ăn nhiều đồ cay, nóng, chua, lạnh làm tổn thương tỳ vị, làm tỳ mất kiện vận, vị mất hoà giáng, khí cơ trở trệ cũng gây đau thượng vị, bệnh tình kéo dài sẽ gây tổn thương tới dương khí ở trung tiêu mà dẫn đến tỳ vị hư hàn.

- Tiên thiên bất túc: Do thận khí hư (thận dương khi sinh ra đã bất túc, không nuôi dưỡng được tỳ dương làm tỳ dương hư, gây vị khí ứ trệ và hư); do tỳ vị hư (bẩm tố hư yếu hoặc do làm việc khó nhọc vất vả, hoặc do hàn thấp nội sinh làm cho tỳ vị càng thêm thương tổn). Nếu can khí phạm vị thì phải sơ can hòa vị. Nếu tỳ vị hư hàn (do ăn uống và di truyền) thì phải ôn trung kiện tỳ [13]. Một số cây thuốc được sử dụng trong điều trị viêm loét dạ dày.

Lá khôi hay còn gọi là khôi tía, hoặc khôi nhung có tác dụng giảm đau, giảm tiết acid dịch vị, bảo vệ niêm mạc dạ dày mà không ảnh hưởng đến thể tích dịch vị và độ pH trong dịch vị. Bạch truật ức chế viêm loét dạ dày trên mô hình thắt môn vị, giảm thể tích dịch vị, nhưng không ảnh hưởng đến độ pH. Chè dây đã được Hoàng Tích Huyền và cộng sự (1991) đánh giá trên thực nghiệm về độc tính và tác dụng sinh học cho thấy: không có độc tính, có tác dụng giảm đau và kháng khuẩn. Vũ Nam và cộng sự (1995) tiếp tục nghiên cứu trên bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng do HP, Chè Dây không những có khả năng làm liền sẹo ổ loét mà còn diệt vi khuẩn HP.

Phạm Thanh Kỳ và cộng sự cũng đã chứng minh tác dụng ức chế các tác nhân gây bệnh viêm loét dạ dày, hành tá tràng như HP, acid dịch vị, giảm viêm, giảm đau, trung hoà và giảm tiết acid dịch vị. Giúp làm lành vết loét dạ dày, hành tá tràng, giảm đau dạ dày, giảm đau tức, chướng bụng do đầy hơi. 7 Nghệ vàng là với hoạt chất chính là Curcumin thúc đẩy quá trình bảo vệ và tự chữa lành của dạ dày thông qua việc tăng chất nhầy tạo thành một lớp màng bảo vệ niêm mạc khỏi sự tấn công của axit dịch vị và pepsin, đồng thời làm tăng lưu lượng máu đến vùng loét và kích thích tăng sinh tế bào biểu mô mới để lấp đầy vết loét. Cam thảo cũng đã được chứng minh có tác dụng ức chế tiết acid dịch vị, chữa viêm loét dạ dày tá tràng do kích thích tiết chất nhày, bảo vệ niêm mạc.

Một số các vị thuốc khác như dạ cẩm, sâm bố chính cũng đã được chứng minh có tác dụng giảm đau, chống co thắt, chống viêm, giảm tiết dịch vị, kháng acid, giảm căng thẳng, ức chế loét dạ dày, hành tá tràng [1], [14]. Vị trí phân loại chi Murdannia Theo hệ thống phân loại thực vật APG III (2009) [5], [15] vị trí phân loại chi Murdannia là: Giới Thực vật (Plantae) Thực vật hạt kín (Angiospermae) Thực vật một lá mầm (Monocots) Bộ Thài Lài (Commelinales) Họ Thài Lài (Commelinaceae) Chi Murdannia 1. Sự phân bố các loài thuộc chi Murdannia * Trên thế giới Chi Murdannia là một trong những chi lớn nhất thuộc họ Commelinaceae, gồm 60 loài được phân bố rộng khắp thế giới, tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Châu Á, Châu Phi, Trung và Nam 8 Mỹ [4], trong đó phát hiện ở Châu Phi có 11 loài [5], Ấn Độ có 29 loài [6], [7], Trung và Nam Mỹ có 6 loài [16]. Các nghiên cứu gần đây trên thế giới tập trung vào các loài ở vùng nhiệt đới Châu Á và Châu Phi, rất ít ở vùng Trung và Nam Mỹ [17].

Chi Murdannia sinh sôi ở nơi nguồn nước dồi dào, độ ẩm cao. Đa số các loài ưa sống trong khí hậu gió mùa, nơi có lượng mưa lớn. Tuy vậy, cũng có một số loài Murdannia sống được trên đá và các khe đá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ