ĐẶT VẤN ĐỀ Cần tây (Apium graveolens L.) là loại cây rau ăn được trồng rất phổ biến trên thế giới và đã được di thực về trồng ở Việt Nam. Hạt cần tây được đánh giá là dược liệu tiềm năng để phát triển sản phẩm phòng và điều trị bệnh gút do tác dụng hạ acid uric [57], ức chế xanthin oxidase [5], chống viêm [65], giảm đau [63] của dược liệu này đã được chứng minh trên thực nghiệm. Tại một số quốc gia đã có sản phẩm từ hạt cần tây để điều trị hoặc hỗ trợ điều trị bệnh gút như Cachets Lesourd (Gabriel Lesourd Laboratoires - Pháp), Celery Plus (Swiss Bio Pharma - Thụy sĩ), Rheumatic Pain (The Cantassium Company - Anh), Arthritic Pain Herbal Formula 1 (Mayne Pharma - Mỹ), Apium Graveolens (Standard Homeopathic - Canada)…[82]. Flavonoid là một trong những thành phần chính của hạt cần tây [38], đồng thời cũng là nhóm hợp chất liên quan đến tác dụng hạ acid uric và chống viêm của dược liệu này [32].
Vì vậy, việc nghiên cứu chiết xuất nhóm hợp chất flavonoid từ hạt cần tây làm cơ sở để phát triển các dạng bào chế từ dược liệu này là cần thiết. Tại Việt Nam, cao cần tây chiết xuất theo quy trình của tác giả Nguyễn Thu Hằng và cộng sự có tác dụng hạ acid uric, chống viêm và giảm đau in vivo [3], [26]. Tuy nhiên, quy trình chiết xuất trong nghiên cứu trên vẫn còn một số nhược điểm. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết xuất chưa được khảo sát để đưa ra điều kiện chiết xuất tối ưu.
Do đó, để tiếp tục hoàn thiện quy trình, đề tài luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu chiết xuất cao đặc giàu flavonoid từ hạt cây cần tây (Apium graveolens L.)” được thực hiện với hai mục tiêu: 1. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng và điều kiện thích hợp đến quá trình chiết xuất cao đặc chứa flavonoid từ hạt cần tây. Khảo sát một số chỉ tiêu kiểm nghiệm cao hạt cần tây. Tổng quan về cây cần tây và hạt cần tây 1.
Đặc điểm thực vật và phân bố loài Apium graveolens L. Tên Việt Nam: Cần tây Tên tiếng Anh: Celery Tên khoa học: Apium graveolens L. Đặc điểm thực vật Cây thảo, có mùi thơm, sống 1-2 năm, thân mọc đứng, có rãnh dọc, phân nhánh, cao khoảng 15 - 150 cm. Lá thuôn dài hoặc hình trứng, dài 7 - 18 cm, rộng 3,5 - 8 cm, xẻ 3 thùy hình tam giác.
Thùy cuối có răng cưa hoặc khía, dài 1,2 - 2,5 cm, rộng 0,8 - 2,5 cm. Lá phía trên có cuống ngắn, phiến hình tam giác, xẻ sâu 3 thùy, thùy cuối hình trứng. Lá ở gốc có cuống, bẹ to rộng, hình tam giác, xẻ 3 - 5 thùy hình tam giác, đầu tù, mép khía răng to, không lông. Cụm hoa dạng tán, rộng 1,5 - 4,0 cm, mọc đối diện với lá, gồm nhiều tán dài, ngắn không đều, các tán ở đầu có cuống dài hơn các tán bên trong và có kích thước 4 - 15 mm.
Tán kép mang 8 - 12 tán, tán hoa có 7 - 25 hoa, kích thước 6 - 9 mm theo chiều ngang. Hoa phía ngoài có 3-8 (-16) cánh hoa mảnh, kích thước 0,5 - 2,5cm, cuống dài 1 - 1,5 mm. Mùa ra hoa và quả vào tháng 4 - 6 [54]. Phân bố Cây có nguồn gốc ở khu vực bờ biển Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, được trồng rộng rãi ở các nước phương Tây.
Tại Việt Nam, cần tây được di thực, trồng ở nhiều nơi làm rau ăn [2]. Thành phần hóa học Hạt cần tây có chứa flavonoid, tinh dầu, saponin, coumarin, tanin, đường khử, lipid, caroten. Trong đó, thành phần hóa học chính là các hợp chất flavonoid, tinh dầu và coumarin [4], [33]. Flavonoid Flavonoid là một trong những nhóm chất chuyển hóa thứ cấp quan trọng nhất trong hạt cần tây [43].
Theo các tài liệu thu thập được, cho đến nay đã phát hiện được 19 hợp chất flavonoid trong hạt cần tây với khung cấu trúc được thể hiện ở hình 1. Trong đó, hai thành phần chính là apigenin và apiin [46], [79], [80]. Khung cấu trúc của flavonoid trong hạt cần tây Các hợp chất flavonoid trong hạt cần tây được trình bày tóm tắt ở bảng 1. Các hợp chất flavonoid trong hạt cần tây TT Tên hợp chất R1 R2 R3 TLTK [46],[62], 1 Apigenin H H H [80] [46],[62], 2 Apiin H H [80] 3 Apigenin-7-O- [2′′-O-(5′′′-O- 3 feruloyl)-β-d- H H [80] apiofuranosyl]-β- d-glucopyranosid 4 6''-Malonylapiin H H [46] Apigenin 7-O- 5 malonylapiosyl- H H [46] glucosid Chrysoerinol-7- O-apiosyl 6 H OCH3 [46] glucosid (Graveobiosid B) Chrysoerinol-7- 7 H OCH3 [46] O-glucosid Chrysoeriol-7-O- [2′′-O-(5′′′-O- 8 feruloyl)-β-D- H OCH3 [80] apiofuranosyl]-β- d-glucopyranosid 4 Chrysoeriol 7-O- 9 6′′-malonyl H OCH3 [46] apiosylglucosid Chrysoeriol 7-O- 10 6′′-malonyl H OCH3 [46] glucosid Chrysoeriol 7-O- 11 malonylapiosyl- H OCH3 [46] glucosid 12 Luteolin H H OH [67], [79] Luteolin-3-methyl 13 ether-7-apiosyl OCH3 OH [46] glycosid Luteolin-7-O- 14 apiosyl glucosid H OH [46] (Graveobiosid A) Luteolin-7-O- 15 H OH [46] glucosid 5 Luteolin 7-O-6′′- 16 malonyl- H OH [46] apiosylglucosid Luteolin 7-O-6′′- 17 H OH [46] malonyl glucosid Luteolin 7-O- 18 malonylapiosyl- H OH [46] glucosid 19 Kaempferol H OH H [79], [80] Nhận xét: Các flavonoid trong hạt cần tây đều có cấu trúc flavon.
Trong đó, chủ yếu là các dẫn xuất glycosid của apigenin, luteolin và chrysoerinol. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng flavonoid trong hạt cần tây, đặc biệt là apigenin và apiin có các tác dụng dược lý liên quan đến bệnh gút như hạ acid uric, ức chế xanthin oxidase, giảm đau và chống viêm [35], [45], [53]. Tinh dầu Bằng phương pháp cất kéo hơi nước, đã xác định được hàm lượng tinh dầu của hạt cần tây là 2,52%. Phân tích tinh dầu hạt cần tây bằng phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC/MS), kết quả xác định được 28 thành phần với thành phần chính là β-selinen (48,22%) [27], [33], limonen (24,32%) [14], [27], [33].
Căn cứ vào cấu trúc, các thành phần trong tinh dầu hạt cần tây gồm 3 nhóm: dẫn xuất phthalid, terpen và các chất có cấu trúc khác. Trong đó, đáng chú ý là các hợp chất thuộc nhóm dẫn xuất phthalid như 3-n-butyl phthalid [16], sedanolid [58], sedanenolid [72]. Coumarin Theo các tài liệu đã công bố, cho đến nay, 20 hợp chất furanocoumarin đã được phát hiện trong hạt cần tây [10], [11], [15]. Một số hợp chất điển hình như: umbelliferon [52], psoralen [10], [20], bergapten [20], [81], xanthotoxin [20], [81] và isopimpinellin [17].
Lipid Hạt cần tây chứa một lượng lớn lipid, do đó, trong quá trình chiết xuất có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch chiết. Ngoài ra, lipid cũng có thể gây ra một số vấn đề trong quá trình xay nghiền như hiện tượng quá nhiệt làm ảnh hưởng đến quá trình vận hành của thiết bị hay làm phân hủy hoạt chất [70]. Hàm lượng lipid trong hạt cần tây dao động trong khoảng 15,0% - 25,4%, trong đó chủ yếu là triester của acid petroselinic (38,7%) và các acid béo không no khác như acid oleic, acid linoleic…[60], [70]. Tác dụng sinh học 1.
Tác dụng hạ acid uric và ức chế xanthin oxidase Cao ethanol chiết từ hạt cần tây cả 3 liều 250 mg/kg, 500 mg/kg và 1000 mg/kg, uống liên tục trong 5 ngày có tác dụng làm giảm nồng độ acid uric huyết thanh trên chuột nhắt so với lô chứng lần lượt là 59,3%; 52,6% và 43,8%. Mặt khác, cao cần tây liều 250 mg/kg, 500 mg/kg làm giảm hoạt độ xanthin oxidase (XO) gan chuột thí nghiệm tương ứng 12,1% và 10,5% [26]. Một nghiên cứu khác được tiến hành trên chuột, sử dụng dịch chiết hạt cần tây với ethanol 95% sau khi tinh chế bằng dung môi hữu cơ (ethyl acetat, cloroform.) và sắc kí cột. Kết quả, sau 7 ngày sử dụng dịch chiết trên với mức liều 3,3g/kg trên mô hình gây tăng acid uric cấp bằng kali oxonat, nồng độ acid uric trong máu của lô thử giảm 42,7% so với lô chứng [37].
Trên mô hình tương tự song thay đổi quy trình chiết xuất, sử dụng phương pháp chiết hồi lưu với dung môi ethanol 80% (1 giờ/lần x 3 lần), nồng độ acid uric lô thử giảm 17,74% so với lô chứng (p < 0,05) sau 6 tuần uống dịch chiết cần tây với mức liều 2,25 g/kg [31]. 7 Dịch chiết ethanol toàn phần và các phân đoạn dịch chiết từ hạt cần tây đã được đánh giá tác dụng ức chế enzym xanthin oxidase in vitro. Kết quả cho thấy phân đoạn cloroform và phân đoạn ethyl acetat từ hạt cần tây đều thể hiện tác dụng ức chế XO in vitro một cách rõ rệt ở cả 3 nồng độ thí nghiệm 10 µg/ml, 50 µg/ml và 100 µg/ml. Dịch chiết ethanol toàn phần hạt cần tây chỉ thể hiện tác dụng ức chế XO ở 2 nồng độ cao là 50 µg/ml và 100 µg/ml [5].
Tác dụng chống viêm Trên mô hình gây phù bàn chân chuột bằng carrageenan, cao ethanol chiết từ hạt cần tây liều 250 mg/kg và 500 mg/kg đều có tác dụng ức chế phù bàn chân chuột so với lô chứng tại thời điểm 1 giờ sau khi gây viêm (p < 0,05). Tỷ lệ ức chế phù của lô thử so với lô chứng lần lượt là 37,6% và 60,6% [3]. Trên mô hình gây viêm màng hoạt dịch khớp gối bằng tinh thể natri urat, cao ethanol chiết từ hạt cần tây liều 250 mg/kg uống liên tục trong 5 ngày làm giảm triệu chứng viêm so với lô chứng tại thời điểm 4 và 5 giờ sau khi gây viêm (p < 0,01 và p < 0,05). Cao cần tây liều 500 mg/kg uống liên tục trong 5 ngày làm giảm triệu chứng viêm so với lô chứng tại cả ba thời điểm 4; 5 và 6 giờ sau khi gây viêm (p < 0,01 và p < 0,05 [3].
Tác dụng giảm đau Trên mô hình Randall-Selitto, cao ethanol chiết từ hạt cần tây liều 250 mg/kg và 500 mg/kg có tác dụng tăng ngưỡng phản ứng đau của chuột so với lô chứng tại các thời điểm 1 giờ và 2 giờ sau khi tiêm carrageenan (p < 0,05) [3]. Trên mô hình tương tự song sử dụng dịch chiết ethanol của hạt cần tây đã được tinh chế bằng CO2 siêu tới hạn cho kết quả: dịch chiết sử dụng với mức liều 70mg/kg có tác dụng tương đương với ibuprofen liều 200mg/kg thể trọng chuột. Trên mô hình gây quặn đau bằng acid acetic (phương pháp Koster), cao ethanol chiết từ hạt cần tây liều 250 mg/kg làm giảm số cơn quặn đau của chuột nhắt trắng so với lô chứng trong khoảng thời gian từ phút thứ 10 đến 15 (p < 0,01); từ phút 15 đến 20 (p < 0,05); từ phút 20 đến 25 (p < 0,01) [3]. Nasri, dịch chiết ethanol từ hạt cần tây thể hiện tác dụng giảm đau thông qua cơ chế tương tác với receptor NMDA và tác động vào quá trình sản sinh NO [63].