mở đầu cho hướng nghiên cứu này, đã phân tích những nét mới của Truyện Kiéu, từ đó xác định và lý giải phong cách Nguyễn Du bằng nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt là cái nôi văn hóa Việt Nam. Với Van hóa Việt 11 Nam và cách tiếp cận mới (1994), Phan Ngoc đề xuất về phương pháp nghiên cứu văn hóa, đồng thời vận dụng nghiên cứu một vài danh nhân văn hóa Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiều. Van hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam A (1995) của Đinh Gia Khánh, từ những khảo sát đối chiếu các dữ liệu văn học dân gian, đã xác định cái nôi văn hóa Việt Nam là Đông Nam Á, từ đó ghi nhận một số đặc trưng văn hóa rất đáng chú ý như: “Hiện tượng không độc tôn tôn giáo, vai trò của tin ngưỡng (dén, đình), sự ton tại song động của văn hóa dân gian”; “tinh thich nghỉ với môi trường rõ rệt, làm nên vung văn hóa”; “khẳng định thể chế bản địa ở hạ tang; hiện tượng “dân gian hóa văn học bác học ” và “bác học hóa văn học dân gian ” (Đình Gia Khánh, 1995, tr. Với công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (1995), Trần Đình Hượu đã nghiên cứu văn học giai đoạn từ đầu Lê đến cuối Nguyễn trong mối quan hệ với các mô hình của Nho giáo (hành đạo, ấn dat, tai tử).
Tiếp đó, là Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (1995) của Trần Ngọc Vương. Chuỗi công trình nghiên cứu về văn hóa học của Tran Ngọc Thêm: Cơ sở văn hóa Việt Nam (1995), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1996) là những tài liệu quan trọng mà bat cứ ai muốn tìm hiểu về văn hóa học đều cần phải đọc. Những nội dung triển khai trên góc độ loại hình: “Văn hóa nhận thức”; “Văn hóa tô chức đời sống cộng đồng: đời sống tập thé”; “Van hóa tô chức đời sống cộng đồng: đời sống cá nhân”; “Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên”; “Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội” có thé mang lại cho người khám phá văn học bằng văn hóa những gợi ý khoa học xác đáng. Mi quan hệ giữa văn hóa và văn học (1997) của Đỗ Thị Minh Thúy đã mang lại cho chúng tôi nhiều thông tin quý giá với các vấn đề: bản chất của văn hóa và văn học, vị trí của văn học trong văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học trong lịch sử phát triển.
Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm (2000) của Trần Quốc Vượng, đã trình bày về truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam, diễn trình văn hóa, văn hóa dân gian, nghệ thuật, ứng xử, danh nhân. Có thé tim thấy ở đây nhiều ý tưởng khái quát đáng suy nghĩ. Chang hạn, tác giả chia sẻ quan niệm của Cao Xuân Huy về yếu tính “øước” trong bản sắc văn hóa người Việt, làm thành “triết lý nước hay là nhu dao” (Trần Quốc Vượng, 2000, tr.41), dé nói đến kha 12 năng ứng biến, da dạng; cũng như khang định: “Văn hóa có một tinh cách lưỡng diện (dualiste), lưỡng tri (ambivalence): vừa thích ứng hòa điệu, vừa biến đổi thiên nhiên” (Trần Quốc Vượng, 2000, tr. Ngoài ra Trần Quốc Vượng có những khang định đáng chú ý: “Đừng tach rời văn hóa với thiên nhiên”; văn hóa Việt Nam chủ yếu là “nến văn hóa xóm làng” (culture villageoise); “Thién nhiên là điểm xuất phát của văn hóa Việt Nam”); “Có nhiều sắc thái văn hóa từng vùng”; “Văn hóa cũng là cái hằng ngày” (quotidien).
Làm văn hóa, nên chú ý “khái niệm”, “chuẩn mực”, “biểu tượng”, “giá trị”; “chú ý văn hóa nội sinh và ngoại nhập; chú ý quá trình diễn tiến văn hóa (cộng đồng và cá nhân) với vô số những biểu hiện khác nhau”. Cuỗi cùng ông nhấn mạnh “con đường phát triển Việt Nam phải bắt dau từ văn hóa” (Tran Quốc Vượng, 2000, tr. Thử xét văn hóa - văn học bằng ngôn ngữ học của Phan Ngọc (2000), là một công trình với hệ vấn đề phong phú. Ở đó, chúng tôi chú ý các luận điểm: “văn hóa Việt Nam là văn hóa nhân cách luận” (Phan Ngọc, 2000, tr.
Ở phần cuối công trình, ông nêu ra cái khung cho văn hóa Việt Nam: “Tổ quốc - Gia đình - Thân phận - Diện mạo”, đồng thời vừa khảo sát kỹ văn bản, thê loại, vừa phân tích chúng trên cái nền đa sắc của văn hóa. Nghiên cứu một nhà thơ độc đáo Việt Nam từ góc nhìn văn hóa, Hà Xuân Hương hoài niệm phôn thực (2000) của Đỗ Lai Thúy đã gây một cảm hứng lớn trong giới văn chương. Đọc kỹ văn bản thơ Nom Hồ Xuân Hương, tác giả đã chạm vào mạch nguồn van hóa (tín ngưỡng và triết lý phon thực) dé từ đó triển khai công trình một cách linh hoạt uyén chuyền trên các phương pháp nghiên cứu khác nhau nham đi sâu vào khám phá biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa và tiếng cười phê phán cũng như tư duy hiện đại của bà (Đỗ Lai Thúy, 2000, tr. Cũng như hai công trình vừa kể trên của Trần Ngọc Thêm, Co sở văn hóa Việt Nam (2002) của Chu Xuân Diên đã cung cấp cho người đọc nhiều thông tin nền tảng.
Tác giả phân tích sự hiện diện của văn hóa trên ba mối quan hệ: văn hóa với tự nhiên, văn hóa với xã hội, văn hóa với cá nhân. Theo tac giả, với tự nhiên, “văn hóa khắc chế bản năng”, “thích nghi và biến đổi tự nhiên”; với xã hội, quan niệm nay của tác giả rất đáng chú ý: “Sw khác nhau giữa xã hội và văn hóa chỉ là sự khác nhau về góc nhìn. Một cộng đồng người nhìn dưới 13 góc độ các mối quan hệ tức là nhắn mạnh vào sự tổ chức, sự tập hợp các cả nhân và những mối quan hệ hợp nhất các cá nhân ấy với nhau, đó là xã hội. Còn nhìn dưới góc độ nội dung các môi quan hệ, tức là nhấn mạnh vào những cách ứng xử xã hội của cộng đông ay thì đó là văn hóa.
Voi cá nhân, hiện tượng xã hội hóa cá nhân, văn hóa hóa cá nhân mang tính lưu truyền sẽ hình thành những mô hình nhân cách. Chức năng của văn hóa: tổ chức xã hội, diéu chỉnh, xây dựng xã hội. Giáo dục, hình thành nhân cách. Duy trì sự liên tục của lịch sử, của xã hội”.
Và “Văn hóa chỉ có thể thực hiện được các chức năng của no khi no vận hành với tinh cách là một hệ thống. Vi vậy van hóa cân được xem xét như một hệ thong”, “nghiên cứu văn hóa can áp dụng cách phân tích cau trúc” (Chu Xuân Diên, 2002, tr. Ông xác định văn hóa là một chỉnh thể toàn vẹn gồm: “mô thitc ứng xử”; “hệ gid trị văn hóa; “tiêu điểm van hóa”; “định hướng văn hóa” (Chu Xuân Diên, 2002, tr. Trên các hoạt động “Làm, ăn, ở, mặc, đi lại”, công trình cũng đưa ra một sỐ ghi nhận về đặc trưng của văn hoa Nam Bộ như: “Thich nghỉ toi ưu với môi trường tự nhiên ”; “Cơm rau ca” theo mua.
Sông nước thuyễn. (Chu Xuân Diên, 2002, tr. Từ góc độ người làm lý luận văn học, Nguyễn Văn Hạnh đã đưa vào công trình Văn học văn hóa, vấn đề và suy nghĩ (2002) những suy tư về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, trên bình diện khái quát và cụ thê. Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2003) của Trần Nho Thìn đã đóng góp vào không gian học thuật Việt Nam một thành quả mới về việc vận dụng nhãn quan văn hóa học dé khám phá một giai đoạn van học.
Tôn trọng đặc trưng của đối tượng, tác giả chọn lựa những cách tiếp cận tương thích để “khả năng suy diễn, khả năng hiện đại hóa có thể được giảm thiểu và chúng ta càng có nhiều cơ may đến gan sự thật lịch sử văn học” (Trần Nho Thin, 2005, tr.5), đó là một nguyên tắc lớn, mà chúng tôi muốn học hỏi trong công việc của mình. Bài viết ngắn Tiếp cận mẫu người văn hóa từ ba làn sóng văn minh của Đỗ Lai Thúy, trên tạp chí Văn hoá Nghệ thuật sô 2/2006, có những gợi ý quan trọng về mẫu người văn hóa hiện tại ở Việt Nam, dưới tác động của các nền văn minh (nông nghiệp, công nghiệp, tin học). 14 Trong Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa (2008) của Lê Nguyên Cần, chúng tôi đặc biệt chú ý Chương hai: Truyện Kiểu qua các cách tiếp cận (xã hội học; thi pháp ký kiệu học; phân tâm học; văn hóa - lịch sử). Bài viết Phê bình cổ mẫu và cổ mẫu nước trong văn chương Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Xuân (trong công trình Nghiên cứu văn học Việt Nam - Những khả năng và thách thức, tuyên tập chuyên khảo do Viện Harvard - Yenching tài trợ năm 2009) đã giới thiệu khái quát về phê bình cổ mẫu của Carl Gustav Jung đồng thời đi tìm các dấu vết của “øước” như là ám ảnh văn hóa trong văn học Việt Nam.
Giải mã văn học từ mã văn hóa (2011) cua Trần Lê Bảo là một công trình mang lại cho chúng tôi những gợi ý quan trọng về phương pháp. Đó là các yêu cầu: Thứ nhất “đặ văn học vào bối cảnh rộng lớn của văn hóa - xã hội, hoặc trong ảnh hưởng qua lại của văn học đối với những hiện tượng văn hóa xã hội khác, từ đó làm noi bật những sắc thái văn hóa phong phú được thể hiện trong tác phẩm văn học”; thứ hai, “khám phá những phù hiệu, biểu tượng hàm an muôn vàn lớp nghĩa tram tích của văn hóa trong văn bản văn học cu thể”; thử ba, “qua lớp bê mặt của ngôn ngữ tác phẩm, trên cơ sở so sánh hiện thực và lịch sử, di sâu khám pha nội hàm tâm ly văn hóa và hạt nhân van hóa tiềm dn trong nhiễu lớp tram tích của tác phẩm, đối chiếu tong thể trên nhiễu bình diện, nhiều góc độ, nhà nghiên cứu có thể đánh giá hết cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học và ý nghĩa quan trọng của văn học đối với cuộc sống của nhân loại” (Tran Lê Bảo, 2011, tr. Công trình Nam Bộ nhìn từ văn hoá, Văn hoc và Ngôn ngữ (2011) do Vũ Văn Ngọc chủ biên, ghi nhận những sắc thái văn hóa đặc trưng của Nam Bộ như: “sự uyên bá Nho giáo ở Nam Bộ không phải là sự áp đặt, cô tình dong hóa như ở phía Bắc. Nho giáo ở Nam Bộ cũng được người Nam Bộ tiếp nhận một cách tự nhiên,.