Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm xét trên phương diện hình thức Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm xét trên phương diện ngữ nghĩa 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát về thơ và ngôn ngữ thơ 1. Khái quát về thơ 1. Khái niệm Mọi tác phẩm văn học đều tồn tại trong các hình thức thể loại nhất định: một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn, một bài thơ, một vở kịch, một kí sự.
Không có tác phẩm văn học nào đƣợc xây dựng ngoài những hình thức quen thuộc đó. Trong số đó, thơ có lịch sử lâu dài hơn so với các thể loại văn học khác. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi xin nêu một số quan điểm về thơ của các học giả, nhà thơ, nhà nghiên cứu nhƣ sau: Quan niệm chính thống về thơ của Nho giáo là “thi ngôn chí” (Thiên “Thuấn điển” trong Kinh Thƣ). Quan niệm này cũng đã thống trị hàng ngàn năm thơ Trung đại Việt Nam.
Phan Phu Tiên (đời Trần) đã viết trong lời tựa “Việt âm thi tập tân san”: “Trong lòng có điều gì tất hình thành ở lời cho nên thơ để nói chí vậy”. Trong thơ Trung Quốc cổ còn có quan niệm “thi ngôn tình” xuất hiện từ thế kỷ III (đời Đông Tấn). Quan niệm thi ngôn tình đã ảnh hƣởng đến trào lƣu nhân đạo chủ nghĩa trong thơ Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX mà tiêu biểu là "Truyện Kiều" của Nguyễn Du. Quan niệm “thi ngôn tình” gần với thuyết biểu hiện trong thơ phƣơng Tây.
Theo đó, thơ là sự tuôn tràn, bột phát những tình cảm mãnh liệt. Cách đây khoảng 1.500 năm, tại đất nƣớc Trung Hoa, tác giả Lƣu Hiệp trong Văn tâm điêu long đã nêu ra ba tiêu chí cơ bản cấu thành một văn bản thơ là: “hình văn, thanh văn và tình văn”. Theo quan niệm này thì tính thẩm mĩ đƣợc coi là yếu tố cốt lõi để tạo nên cảm hứng thi ca. Tác giả Mã Giang Lân lại khẳng định: “Thơ là một thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp 4 yếu tố: Ý - Tình - Hình - Nhạc”.[21] Ở đây, Mã Giang Lân 10 muốn đề cao mối quan hệ khăng khít, hòa quyện giữa ý nghĩa, cảm xúc, hình ảnh và tính nhạc trong thơ.
Nhà thơ Phan Ngọc từng phát biểu: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”. Qua phát biểu “lạ” này, Phan Ngọc muốn đề cao giá trị của ngôn từ trong thơ. Ngôn từ trong thơ phải đƣợc chắt lọc, gọt rũa tỉ mỉ để đạt tới sự kết tinh giữa cảm xúc và lý trí. Nhà thơ Chế Lan Viên lại quan niệm rằng: “Thơ là một sản phẩm của tâm hồn, trí tuệ con người…Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay”.
Theo Chế Lan Viên, thơ là kết tinh của tâm hồn và trí tuệ. Thơ phản ánh thực tại, tác động trở lại thực tại để tạo dấu ấn trong thực tại. Tóm lại, trong quá trình vận động, phát triển của đời sống xã hội sẽ còn nhiều quan niệm mới về thơ ra đời. Tuy nhiên, để tiện cho việc nghiên cứu chúng tôi xin dẫn ra định nghĩa về thơ trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học làm cơ sở triển khai đề tài: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”.
Vài nét về thể loại thơ Theo tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, các thể thơ luôn có những diện mạo mới, phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc. Mỗi thể thơ sẽ thích hợp với một hoàn cảnh nhất định và cũng tùy tâm trạng, thời điểm, hoàn cảnh, thời gian, không gian, đối tƣợng sáng tác… mà ngƣời làm thơ chọn cho mình một loại hình thơ nhƣ: trƣờng ca, truyện thơ, thể thơ lục bát, thơ Đƣờng luật… * Ở Trung Quốc, thành tựu đáng kể về thi ca phải nói đến thời Đƣờng, với một số thể loại chính. Đó là: Thơ cổ phong (cổ thể); Thơ luật (thơ Đƣờng luật: thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú… ) và Thơ tuyệt cú. 11 * Ở Việt Nam, cùng với những thăng trầm của lịch sử cũng xuất hiện nhiều thể thơ khác nhau, phản ánh cuộc sống và quá trình phát triển của xã hội, tiêu biểu là một số thể thơ sau: - Thơ Lục bát: là một trong hai thể thơ chính của Việt Nam (Lục bát và Song thất lục bát).
Vần thơ lục bát có tiếng 2, 4, 6 – bằng, trắc, bằng; tiếng 2, 4, 6, 8 – bằng, trắc, bằng, bằng; tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát; tiếng thứ 8 của câu bát vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo. Ví dụ: …“Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”… (Việt Bắc, Tố Hữu) - Thơ Song thất lục bát: Cũng là một thể thơ đặc biệt của Việt Nam, gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát. Trong câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, tiếng thứ 5 là bằng, tiếng thứ 7 là trắc; trong câu thất dƣới, tiếng thứ 3 là bằng, tiếng thứ 5 là trắc, tiếng thứ 7 là bằng. Hai câu lục bát theo luật thƣờng lệ.
Tiếng cuối câu thất trên vần với tiếng thứ 5 câu thất dƣới, tiếng thứ 7 câu thất dƣới vần với tiếng thứ 6 câu lục, tiếng thứ 6 câu lục vần với tiếng thứ 6 câu bát. Và tiếng thứ 8 câu bát vần với tiếng 5 của câu thất khổ tiếp theo. Ví dụ: …Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt, Xếp bút nghiên theo việc đao cung. Thành liền mong tiến bệ rồng, Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. 12 Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu… (Bản dịch Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm) - Thơ bốn chữ là thể thơ có bốn tiếng ở mỗi câu thơ. Nếu tiếng thứ 2 là bằng thì tiếng thứ 4 là trắc và ngƣợc lại. Thơ bốn chữ thƣờng gieo vần chân, vần lƣng, vần cách và vần liền.
Ví dụ nhƣ: Hạt gạo làng ta Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy Có lời mẹ hát Ngọt bùi đắng cay. - Thơ năm chữ (ngũ ngôn) là thể thơ có năm tiếng ở mỗi câu thơ. Cũng giống nhƣ thơ bốn chữ, nếu tiếng thứ 2 là trắc thì tiếng thứ 4 là bằng và ngƣợc lại. Ngoài ra, còn có các thể thơ sáu chữ, bẩy chữ và tám chữ… đều là những thể thơ độc đáo của Việt Nam.
Về thơ mới, trên thế giới bắt đầu bằng việc trên thi đàn xuất hiện những bài thơ có thể tài nghệ thuật và thanh vận khác biệt với thơ truyền thống, đƣợc sự ủng hộ của những cây bút trẻ. Từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tại Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia… thơ mới đã trở thành một hiện tƣợng. Trong đó, Nhật Bản là quốc gia châu Á đi đầu trong phong trào thơ mới, với sự xuất hiện của thể loại Shintaishi (tân thể thi) vào năm 1882, khi Toyama Seiichi (1848-1900), Yatabe Ryokichi (1851-1899) và Inoue Tetsujiro (1855-1944), ba giáo sƣ Đại học Tokyo, trong khi dịch thơ phƣơng Tây đã thử sáng tác một số bài thơ theo phong cách châu Âu đƣơng thời và cho in thành tập mang tên Shintaishi- 13 sho (tân thể thi sao). Thơ mới đạt mốc lớn tiếp theo vào cuối thời Meiji với sự ra đời của thơ tự do, hay còn gọi là thơ sử dụng văn nói.
Về thơ tự do, số chữ trong mỗi câu và số câu, số khổ trong mỗi bài thơ không giới hạn. Không có những khái niệm về niêm, luật, đối. Không có những quy định về vần, nhịp. Thơ tự do thƣờng có nhiều âm thanh, hình tƣợng, màu sắc đa dạng và phong phú, biểu thị bởi cách dùng từ mới lạ, mang tính cách tân, không hàm chứa những hình ảnh cũ kỹ, xáo mòn.
Thậm chí có những từ chỉ những vật thể bình thƣờng hay tầm thƣờng, những sinh vật bé bỏng, gớm giếc cũng đƣợc sử dụng. Ngoài ra, còn có những khái niệm trừu tƣợng, siêu thực, hoang tƣởng, phi vật thể, đôi khi “quái dị” đan xen, thay thế cho những hình tƣợng cụ thể, quen thuộc. Lời kết đôi khi, hoặc thƣờng xuyên đƣợc bỏ ngỏ, không tròn trịa, không có đầu, có đuôi nhƣ thơ cũ, để tùy ngƣời đọc kết luận và tƣởng tƣợng. Ý thơ cũng đa dạng, không gò bó.
Vì vậy, thơ tự do thƣờng đƣợc hiểu một cách đơn giản và sai lầm nhƣ là một loại thơ rối rắm, tối nghĩa, khó hiểu, khó cảm thụ, khó đọc và khó nhớ. Nhƣng thật ra không phải vậy, thơ tự do cho chúng ta đƣợc bay bổng, tự do trong cảm nhận và trải nghiệm cuộc sống, giúp chúng ta dễ dàng hóa thân vào nhân vật trữ tình một cách sâu sắc nhất, để từ đó vốn sống của chúng ta phong phú thêm. Tuy nhiên, một số tác giả trong quá trình sáng tác đã vận dụng thể thơ Đƣờng luật của Trung Quốc nhƣng đƣa những yếu tố sáng tạo rất mới vào trong thơ tạo ra những thể thơ “lạ”, độc đáo nhƣ: thể thất ngôn xen các câu lục ngôn, thất ngôn lục cú…v. nó không hoàn toàn bỏ các quy định về niêm, luật của thơ Đƣờng nhƣng cũng không sử dụng đúng theo quy tắc nghiêm ngặt của thơ Đƣờng luật.
Nó là sự phá cách tài tình, độc đáo thể hiện tài năng của các nhà thơ. Một số vấn đề về vần, nhịp và hài thanh trong thơ a) Vần thơ 14 Về khái niệm vần thơ: Trong tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận khái niệm vần từ hai góc độ lí luận văn học và ngôn ngữ học nên đã đƣa ra những kiến giải khác nhau.