Tổng quan về luận án

Bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các Nghị quyết định hướng cải cách tư pháp của Đảng (Nghị quyết số 49-NQ/TW, Nghị quyết Đại hội XII và Đại hội XIII) đặt ra yêu cầu cấp bách phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đặc biệt là kiểm soát quyền tư pháp. Trong thiết chế bộ máy nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) giữ vị trí độc lập, thực hiện chức năng hiến định là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính (TTHC) giữ vai trò then chốt nhằm bảo đảm tính hợp pháp, khách quan trong phán quyết của Tòa án, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và lợi ích của Nhà nước trước các quyết định, hành vi hành chính.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực tiễn: dù Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã mở rộng đáng kể thẩm quyền của Tòa án và trách nhiệm kiểm sát, các công trình của Đào Trí Úc (2000), Nguyễn Minh Đoan (2016), hay Bùi Xuân Đức (2012) chủ yếu tiếp cận ở góc độ kiểm soát quyền lực tổng thể hoặc tố tụng hình sự, dân sự; thiếu vắng công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về cơ chế pháp lý điều chỉnh trực tiếp nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTHC từ góc độ lý luận và thực chứng giai đoạn 2016–2021.

Luận án của NCS. Nguyễn Thị Thế (2023), do PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh hướng dẫn tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Mã số: 9380101.01), giải quyết 03 câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:

  1. RQ1: Bản chất lý luận, đặc điểm và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTHC là gì?
  2. RQ2: Thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về nội dung, phương thức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND giai đoạn 1996–2021 (đặc biệt từ 2016 đến nay) bộc lộ những khoảng trống, bất cập nào?
  3. RQ3: Những quan điểm chỉ đạo và giải pháp lập pháp, tổ chức thi hành nào có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát TTHC đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp?

Tương ứng, 03 giả thuyết nghiên cứu (hypotheses) được kiểm định:

  • H1: Sự hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTHC tỷ lệ thuận với mức độ kiểm soát quyền lực tư pháp và bảo vệ quyền con người trong tài phán hành chính.
  • H2: Những bất cập trong thực tiễn kiểm sát TTHC (tỷ lệ bản án bị hủy, sửa, tình trạng án tồn đọng, vướng mắc trong thu thập chứng cứ và kiểm sát thi hành án) bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa Luật TTHC năm 2015 với Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và Luật Đất đai năm 2013.
  • H3: Thiết lập cơ chế trao quyền khởi tố vụ án hành chính cho VKSND trong trường hợp xâm phạm lợi ích công cộng và hoàn thiện chế tài kiểm sát thi hành án hành chính (THAHC) sẽ giải quyết căn bản điểm nghẽn của nền tư pháp hành chính hiện nay.

Khung lý thuyết của đề tài tích hợp học thuyết Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước, Lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN và Tư tưởng Lenin về tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Phạm vi khảo cứu trải dài từ Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 đến Luật TTHC năm 2015, tập trung dữ liệu thực chứng 05 năm (2016–2021) từ hệ thống VKSND toàn quốc.


Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu cho thấy ba dòng nghiên cứu (research streams) chủ đạo trong học thuật pháp lý:

Dòng thứ nhất tập trung vào tổ chức bộ máy nhà nước và cơ chế kiểm soát quyền lực. Các công trình tiêu biểu gồm: Nguyễn Minh Đoan (2009, 2016) với "Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay"; Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh (2003) với "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay"; Trần Ngọc Đường (2010, 2012) với các đề tài cấp Nhà nước về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực. Nhóm tác giả này thiết lập nền tảng lý luận vững chắc về sự cần thiết của các thiết chế độc lập giám sát quyền tư pháp nhằm chống sự tha hóa quyền lực.

Dòng thứ hai đi sâu vào chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. GS.TS Đào Trí Úc (2020) xác định kiểm sát tư pháp là dạng giám sát nhà nước đặc thù từ bên trong và bên ngoài quy trình tố tụng; PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (2014) và PGS.TS Trương Thị Hồng Hà (2014) phân tích vị trí độc lập của VKSND theo Hiến pháp 2013; Phạm Hồng Hải (2001) phân định ranh giới giữa kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố.

Dòng thứ ba khảo sát chuyên biệt về TTHC và vị trí của Viện kiểm sát/Tòa hành chính. PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh (2010) trong bài viết "Vai trò của Viện kiểm sát trong vụ án hành chính và vấn đề độc lập xét xử" đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa kiểm sát tư pháp và nguyên tắc xét xử độc lập của Tòa án; Phạm Hồng Quang (2010) so sánh mô hình Tòa hành chính giữa Việt Nam, Pháp, Trung Quốc và Nhật Bản; Nguyễn Ngọc Duy (2013) làm rõ kỹ năng nghiên cứu hồ sơ án hành chính của Kiểm sát viên.

Tranh luận học thuật cốt lõi tồn tại ở hai quan điểm đối lập:

  • Quan điểm thứ nhất (mang khuynh hướng tố tụng tranh tụng thuần túy - Adversarial model) cho rằng TTHC giải quyết tranh chấp bình đẳng giữa cá nhân/tổ chức với cơ quan công quyền, do đó nên giảm tối đa sự can thiệp của VKSND nhằm bảo đảm tính trung lập của Tòa án và quyền tự định đoạt của đương sự.
  • Quan điểm thứ hai (mang khuynh hướng tố tụng thẩm vấn/bảo vệ pháp chế XHCN - Inquisitorial model) lập luận rằng trong TTHC luôn có sự bất bình đẳng tự nhiên về quyền lực thông tin và vị thế giữa người dân và cơ quan nhà nước, do đó sự tham gia chủ động, toàn diện của VKSND là bảo đảm bắt buộc để duy trì pháp chế và bảo vệ bên yếu thế.

Về mặt quốc tế, luận án so sánh trực tiếp với hai hệ thống pháp luật điển hình:

  1. Liên bang Nga: Luật Tố tụng hành chính Liên bang Nga năm 2015 (sửa đổi 2017) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát năm 1992 (sửa đổi 2004, 2020) trao cho Viện công tố quyền chủ động khởi kiện hành chính bảo vệ lợi ích công cộng và tham gia mọi giai đoạn tố tụng.
  2. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Cải cách tư pháp theo Luật TTHC Trung Quốc (1989, sửa đổi) và các nghiên cứu của Yuwen Li (2016) cho thấy Trung Quốc mở rộng mạnh mẽ quyền của VKSND trong khởi tố các vụ án hành chính công ích (Public Interest Litigation) về môi trường, bảo vệ tài sản công.

Luận án của NCS. Nguyễn Thị Thế định vị chính xác khoảng trống: chuyển hóa các nguyên lý lập pháp quốc tế thành mô hình lý luận và quy phạm phù hợp với thể chế chính trị - pháp lý Việt Nam, xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTHC.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án kế thừa và phát triển học thuyết của V.I. Lenin trong tác phẩm kinh điển "Bàn về song trùng trực thuộc và pháp chế", tái khẳng định luận điểm: kiểm soát quyền lực nhà nước là thuộc tính tất yếu khách quan để duy trì "tính thống nhất của pháp chế" trên phạm vi toàn quốc. Tác giả phát triển lý thuyết này trong điều kiện mới: chuyển từ mô hình "kiểm sát chung" (trước Hiến pháp 1992/2001) sang mô hình chuyên biệt hóa "kiểm sát hoạt động tư pháp trong TTHC".

Mô hình lý thuyết của luận án xác lập 03 mệnh đề cốt lõi:

  • Mệnh đề 1 (Bản chất kiểm sát): Kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính không phải là sự can thiệp hành chính vào hoạt động xét xử, mà là cơ chế pháp lý hiến định bảo đảm tính thượng tôn pháp luật và hạn chế sự lạm quyền tư pháp của Thẩm phán, Hội đồng xét xử.
  • Mệnh đề 2 (Cân bằng tố tụng): Sự hiện diện của Kiểm sát viên tại phiên tòa hành chính thiết lập sự cân bằng thực chất về vị thế giữa công dân (chủ thể khiếu kiện) và cơ quan hành chính nhà nước (chủ thể bị kiện nắm giữ quyền lực công).
  • Mệnh đề 3 (Khép kín quy trình): Nhiệm vụ của VKSND không dừng lại khi bản án có hiệu lực pháp luật mà phải bao quát cả giai đoạn thi hành án hành chính – giai đoạn vốn có tỷ lệ vi phạm cao và thiếu cơ chế cưỡng chế trực tiếp.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của đề tài tích hợp ba trụ cột:

  1. Lý thuyết Nhà nước pháp quyền: Đòi hỏi mọi quyết định hành chính và bản án tư pháp đều phải chịu sự phán xét và kiểm soát tính hợp pháp nghiêm ngặt.
  2. Lý thuyết Quyền con người và Tiếp cận công lý: Đảm bảo thủ tục TTHC minh bạch, bình đẳng, không bị cản trở bởi thủ tục hành chính phức tạp.
  3. Lý thuyết Quản trị tư pháp (Judicial Governance): Đánh giá hiệu lực thi hành quy phạm thông qua bộ chỉ số thực chứng (tỷ lệ chấp nhận kiến nghị, tỷ lệ kháng nghị thành công, thời hạn thụ lý hồ sơ).

Bộ tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về VKSND trong TTHC gồm 04 chiều cạnh:

  • Tính toàn diện, đồng bộ: Phủ kín mọi giai đoạn tố tụng (tiếp nhận đơn, giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành án).
  • Tính khả thi và hiệu lực thực thi: Quy định cụ thể thời hạn, quyền hạn chế tài đối với các chủ thể không chấp hành yêu cầu của Viện kiểm sát.
  • Tính tương thích quốc tế: Phù hợp với các chuẩn mực về quyền tiếp cận công lý và tính độc lập của công tố viên theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Quốc tế các Công tố viên (IAP) và khuyến nghị của Liên Hợp Quốc.
  • Tính bảo đảm quyền con người: Tạo lập hành lang bảo vệ hữu hiệu quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi bị hành vi, quyết định hành chính xâm phạm trái luật.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng lập trường nhận thức luận (epistemological stance) kết hợp giữa Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp tiếp cận Thực chứng pháp lý (Empirical Legal Studies)Phân tích chuẩn tắc (Normative Legal Analysis).

Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level design):

  • Cấp độ vĩ mô: Phân tích thể chế, vị trí hiến định của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước và chiến lược cải cách tư pháp.
  • Cấp độ trung mô: Rà soát, đối chiếu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp 2013, Luật TTHC 2010 & 2015, Luật Tổ chức VKSND 2014, các Thông tư liên tịch và Quy chế nghiệp vụ của ngành KSND).
  • Cấp độ vi mô: Khảo sát định lượng toàn diện các số liệu giải quyết án hành chính của VKSND từ ngày 01/7/2016 (khi Luật TTHC năm 2015 có hiệu lực) đến ngày 31/5/2021.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được kiểm soát nghiêm ngặt qua 04 phương pháp bổ trợ:

  1. Phương pháp lịch sử: Truy nguyên sự phát triển của chế định VKSND qua Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945, Hiến pháp 1959 (Điều 105 quy định: "VKSND tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân"), Hiến pháp 1980, 1992 và 2013.
  2. Phương pháp so sánh luật học (Comparative Law): Đối chiếu mô hình kiểm sát TTHC của Việt Nam với Nga, Trung Quốc, Bulgaria, Pháp, Đức và Thụy Điển.
  3. Phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm: Rà soát 20+ văn bản luật chuyên ngành (Luật Đất đai 2013, Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2018, Luật Cạnh tranh 2018, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, v.v.).
  4. Phương pháp thống kê thực chứng và quan sát: Khai thác hệ thống 09 Phụ lục thống kê nghiệp vụ từ Báo cáo sơ kết 05 năm thi hành Luật TTHC năm 2015 của VKSND tối cao (2021).

Data và phân tích

Mẫu dữ liệu thực chứng phản ánh bức tranh toàn cảnh về hoạt động kiểm sát TTHC trong 05 năm (2016–2021) trên phạm vi toàn quốc:

  • Kiểm sát trả lại đơn khởi kiện (Phụ lục 1): Tổng số thông báo trả lại đơn khởi kiện đã kiểm sát đạt 3.340 vụ việc (dao động từ 377 vụ năm 2016 lên đỉnh điểm 726 vụ năm 2018; 671 vụ năm 2020). VKS đã ban hành 106 kiến nghị, trong đó Tòa án chấp nhận 49 kiến nghị (tỷ lệ chấp nhận đạt trung bình 46,2%).
  • Kiểm sát giải quyết sơ thẩm (Phụ lục 2): Số vụ án hành chính sơ thẩm VKS thụ lý kiểm sát tăng từ 509 vụ (nửa cuối 2016) lên 6.063 vụ (năm 2018), Tòa án giải quyết 4.493 vụ, trong đó tỷ lệ đối thoại thành chiếm tỷ trọng nhỏ (từ 25 đến 129 vụ/năm).
  • Kiểm sát giải quyết phúc thẩm (Phụ lục 3): VKS thụ lý 1.589 vụ (2018) và 2.203 vụ (2021).
  • Thực hiện quyền yêu cầu của VKS (Phụ lục 6): Ban hành tổng cộng 1.851 văn bản yêu cầu (1.815 yêu cầu gửi Tòa án, 36 yêu cầu gửi cơ quan/tổ chức/cá nhân). Tỷ lệ được thực hiện đạt mức rất cao: năm 2016 đạt 69,8% (74/106), năm 2018 đạt 98,8% (417/422), năm 2020 đạt 98,2% (328/334).
  • Thực hiện quyền kiến nghị (Phụ lục 7): Ban hành tổng cộng 1.306 kiến nghị. Tỷ lệ Tòa án và cơ quan hữu quan chấp nhận kiến nghị đạt kỷ lục: Năm 2016 (100%), Năm 2017 (100%), Năm 2018 (99,17%), Năm 2019 (96,75%), Năm 2020 (97,73%), Năm 2021 (96,15%).
  • Kháng nghị phúc thẩm trực tiếp (Phụ lục 8): Ban hành 472 quyết định kháng nghị phúc thẩm; Tòa án đã xét xử chấp nhận sửa/hủy án theo kháng nghị với tỷ lệ cao: năm 2017 chấp nhận 82 vụ (trên 108 vụ xét xử), năm 2018 chấp nhận 91 vụ (trên 118 vụ), năm 2019 chấp nhận 98 vụ (trên 130 vụ).
  • Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm (Phụ lục 9): Tổng số kháng nghị GĐT/TT là 108 vụ; tỷ lệ chấp nhận của Hội đồng Thẩm phán TANDTC/Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao đạt 50% (2016), 85,7% (2017), 75% (2018), 81,8% (2019), 66,66% (2020) và 60% (2021).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Thứ nhất, tồn tại "khoảng trống pháp lý" nghiêm trọng do việc bãi bỏ quyền khởi tố vụ án hành chính của VKSND. Từ khi Luật TTHC năm 2010 và năm 2015 thay thế Pháp lệnh 1996, VKSND không còn quyền khởi tố vụ án hành chính. Điều này dẫn đến tình trạng: khi các quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật xâm phạm nghiêm trọng đến tài sản công, đất đai, môi trường hoặc quyền lợi của các đối tượng yếu thế (trẻ em, người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn không có khả năng tự khởi kiện), nếu không có đơn khởi kiện của đương sự thì Tòa án không thể thụ lý và VKSND hoàn toàn bất lực trong việc bảo vệ lợi ích công cộng.

Thứ hai, mâu thuẫn giữa nghĩa vụ kiểm sát toàn diện và giới hạn quyền hạn thu thập chứng cứ. Điều 84 và Điều 93 Luật TTHC năm 2015 quy định VKSND có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ, thậm chí trực tiếp xác minh, thu thập chứng cứ để bảo đảm căn cứ kháng nghị. Tuy nhiên, các chế tài đối với việc chậm trễ hoặc từ chối cung cấp tài liệu từ phía UBND các cấp vẫn chưa đủ tính răn đe. Dữ liệu thực tế cho thấy trong các vụ án đất đai (chiếm tới 70–80% tổng số án hành chính), việc UBND chậm cung cấp hồ sơ địa chính, trích lục nguồn gốc đất là nguyên nhân trực tiếp khiến thời hạn chuẩn bị xét xử bị kéo dài.

Thứ ba, sự thiếu đồng bộ trong cơ chế kiểm sát thi hành án hành chính (THAHC). Theo quy định tại Điều 311 và Điều 315 Luật TTHC 2015 cùng Nghị định 71/2016/NĐ-CP, VKSND có quyền kiểm sát việc THAHC và kiến nghị cơ quan cấp trên xử lý cán bộ không chấp hành án. Song, cơ chế tự thi hành án của cơ quan hành chính tạo ra xung đột lợi ích nội tại. Luận án trích dẫn phân tích sắc bén từ giáo trình đại học: "để giúp cho VKSND thuận tiện hơn trong việc kiểm sát việc thi hành án, ngoài việc nâng cao chất lượng xét xử... cần tăng cường công tác kiểm sát thi hành án của VKSND với đối tượng phải thi hành án là cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ, công chức có thẩm quyền... theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, VKSND cần được trao quyền xem xét, khởi tố những hành vi cố tình không chấp hành bản án của Tòa án theo quy định của Bộ luật hình sự".

Thứ tư, hiện tượng rút kháng nghị và tỷ lệ không chấp nhận kháng nghị phúc thẩm giữa các cấp. Dữ liệu Phụ lục 8 chỉ ra rằng vẫn còn tồn tại các trường hợp VKS cấp tỉnh/cấp huyện ban hành kháng nghị phúc thẩm nhưng sau đó VKS cấp cao phải rút quyết định kháng nghị do thiếu chứng cứ vững chắc, hoặc Tòa án không chấp nhận kháng nghị. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế trong công tác phối hợp dọc giữa cấp sơ thẩm và phúc thẩm, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ và đánh giá chứng cứ của một bộ phận Kiểm sát viên chưa đáp ứng yêu cầu tranh tụng.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Khẳng định tính tất yếu khách quan của thiết chế VKSND trong cấu trúc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực tư pháp, bác bỏ các quan điểm cơ học muốn thu hẹp hoặc xóa bỏ vai trò của Viện kiểm sát trong TTHC.
  • Về hoàn thiện pháp luật: Đề xuất lộ trình sửa đổi, bổ sung Luật TTHC năm 2015:
    1. Bổ sung chế định VKSND có quyền khởi kiện vụ án hành chính trong các lĩnh vực lợi ích công cộng, môi trường, di sản văn hóa và bảo vệ người yếu thế.
    2. Quy định rõ thời hạn bắt buộc và trách nhiệm pháp lý cá nhân của người đứng đầu cơ quan hành chính trong việc cung cấp chứng cứ cho Viện kiểm sát.
    3. Bổ sung quyền hạn cho Kiểm sát viên trực tiếp áp dụng biện pháp xác minh thực địa khi cần kiểm tra tính xác thực của quyết định hành chính bị khiếu kiện.
    4. Sửa đổi Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC nhằm chuẩn hóa quy trình gửi bản án, thông báo thụ lý và hồ sơ vụ án từ TAND sang VKSND, chấm dứt tình trạng gửi chậm vi phạm thời hạn luật định.
  • Về tổ chức thực thi: Xây dựng quy trình rút kinh nghiệm chuyên đề đối với các bản án bị hủy, sửa; nâng cấp cơ sở vật chất, tin học hóa việc quản lý sổ sách thụ lý và số hóa hồ sơ kiểm sát TTHC.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn chỉ rõ 03 giới hạn nghiên cứu:

  1. Giới hạn thời gian và dữ liệu thực chứng: Dữ liệu thống kê tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2016 đến tháng 5/2021. Các biến động pháp lý và thực tiễn xét xử sau giai đoạn đại dịch COVID-19 (2021–2023) chưa được lượng hóa đầy đủ trong các phụ lục.
  2. Giới hạn góc nhìn chủ thể: Nguồn dữ liệu sơ cấp chủ yếu khai thác từ báo cáo tổng kết của ngành Kiểm sát nhân dân và phán quyết của Tòa án; chưa thực hiện khảo sát xã hội học pháp luật quy mô lớn trên mẫu đại diện là công dân, luật sư và người bị kiện để đánh giá mức độ hài lòng đối với hoạt động của Kiểm sát viên.
  3. Giới hạn so sánh quốc tế: Việc so sánh tập trung vào mô hình của Nga, Trung Quốc và một số nước châu Âu; chưa đối sánh sâu với các hệ thống tài phán hành chính thuộc khối Common Law (như mô hình Tòa án Hành chính chuyên trách - Administrative Tribunals tại Anh, Mỹ hay Úc).

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Hướng 1: Nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và Tòa án điện tử (E-court) đến phương thức kiểm sát hoạt động TTHC của VKSND.
  • Hướng 2: Xây dựng khung lý thuyết và thực tiễn về "Tố tụng hành chính công ích" (Public Interest Administrative Litigation) do VKSND khởi xướng tại Việt Nam.
  • Hướng 3: Nghiên cứu chuyên biệt về cơ chế phối hợp giữa VKSND và Cơ quan điều tra trong việc xử lý tội phạm không chấp hành bản án hành chính theo Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Hướng 4: Đánh giá thực chứng mối quan hệ giữa kiểm sát TTHC và kiểm soát tham nhũng, tiêu cực trong công tác quản lý nhà nước về đất đai và tài nguyên.

Tác động và ảnh hưởng

Công trình tạo ra những tác động lan tỏa trên nhiều bình diện:

  • Học thuật và Đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực, có giá trị học thuật cao cho các cơ sở đào tạo luật (Trường Đại học Luật - ĐHQGHN, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Học viện Tòa án, Học viện Tư pháp) trong giảng dạy môn Luật Tố tụng hành chính và Kỹ năng kiểm sát án hành chính.
  • Lập pháp: Đóng góp trực tiếp luận cứ khoa học cho Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và VKSND tối cao trong quá trình tổng kết, chuẩn bị sửa đổi Luật TTHC năm 2015, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và xây dựng Đề án cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.
  • Thực tiễn xét xử: Nâng cao tỷ lệ phát hiện vi phạm của Tòa án và cơ quan hành chính; thúc đẩy tỷ lệ chấp nhận kiến nghị (duy trì trên 96%) và nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm của Viện kiểm sát các cấp.
  • Xã hội: Tạo lập cơ chế bảo vệ hữu hiệu quyền công dân, giảm thiểu khiếu kiện hành chính kéo dài, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự công minh, liêm chính của nền tư pháp.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới nghiên cứu luật học: Tiếp cận hệ thống lý luận chặt chẽ, phương pháp nghiên cứu thực chứng chuẩn mực cùng kho tư liệu thống kê quý giá giai đoạn 2016–2021.
  • Kiểm sát viên và Lãnh đạo VKSND các cấp: Trang bị cẩm nang nghiệp vụ sắc bén về kỹ năng kiểm sát trả lại đơn, kiểm sát thu thập chứng cứ, kỹ năng phát biểu tại phiên tòa và kỹ năng phát hiện vi phạm để ban hành kiến nghị, kháng nghị.
  • Thẩm phán và Hệ thống Tòa án nhân dân: Nắm bắt các tiêu chuẩn kiểm sát để chủ động khắc phục sai sót trong quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ, điều hành tranh tụng và tuyên án, giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa.
  • Cơ quan hành chính nhà nước và Cán bộ, công chức: Nhận thức rõ giới hạn quyền lực và trách nhiệm pháp lý khi ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính và nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh các bản án hành chính đã có hiệu lực.
  • Công dân và Cộng đồng doanh nghiệp: Được thụ hưởng nền tài phán hành chính minh bạch, công bằng, có thiết chế độc lập bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi khởi kiện cơ quan công quyền.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Trả lời: Luận án đã hệ thống hóa và phát triển hoàn chỉnh khung lý thuyết về vị trí hiến định và vai trò kiểm soát quyền tư pháp của VKSND trong TTHC dưới ánh sáng của học thuyết Lenin về "tính thống nhất của pháp chế" và nguyên tắc kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp 2013. Tác giả đã định nghĩa tường minh nội hàm pháp lý, phân biệt rõ ràng giữa kiểm sát tư pháp hành chính và kiểm sát tố tụng hình sự/dân sự, đồng thời xây dựng thành công bộ tiêu chí 4 chiều đánh giá mức độ hoàn thiện của quy phạm.

2. Điểm đổi mới về mặt phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây là gì? Trả lời: So với các nghiên cứu tiền nhiệm (như Trần Văn Nam 2010, Phùng Thanh Hà 2014, Trần Thị Thu Hà 2014) vốn chủ yếu tiếp cận theo phương pháp phân tích quy phạm thuần túy hoặc khảo sát phạm vi một địa phương hẹp, luận án đã thực hiện nghiên cứu thực chứng đa tầng (Multi-level empirical design) trên quy mô toàn quốc 05 năm (2016–2021) với 09 bảng biểu phụ lục chi tiết, kết hợp đối sánh đa quốc gia (Nga, Trung Quốc, Bulgaria, Pháp, Đức).

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực chứng của luận án là gì? Trả lời: Phát hiện bất ngờ nằm ở sự tương phản sâu sắc: Trong khi quyền kiến nghị của Viện kiểm sát đạt tỷ lệ chấp thuận gần như tuyệt đối (100% trong năm 2016, 2017 và duy trì trên 96,15%–99,17% các năm sau) và quyền yêu cầu cung cấp tài liệu được thực hiện tới 98,8%, thì khâu thi hành án hành chính lại đạt hiệu quả rất thấp do quy định pháp luật thiếu chế tài cưỡng chế trực tiếp đối với người bị kiện là cơ quan nhà nước, tạo ra điểm nghẽn lớn nhất của toàn bộ quy trình TTHC.

4. Luận án có cung cấp quy trình/giao thức chuẩn cho công tác kiểm sát thực tế không? Trả lời: Có. Luận án cung cấp hệ thống giải pháp tổ chức - nghiệp vụ hoàn chỉnh gồm: (1) Quy trình phối hợp dọc giữa VKS cấp sơ thẩm và phúc thẩm trong trao đổi chứng cứ trước khi ban hành kháng nghị; (2) Kỹ năng trực tiếp kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ địa chính trong các vụ án đất đai; (3) Quy chế tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm nội bộ; (4) Quy trình theo dõi, đôn đốc và kiến nghị khởi tố hình sự đối với hành vi cố tình không chấp hành án hành chính.

5. Luận án vạch ra lộ trình nghiên cứu và lập pháp 10 năm tới như thế nào? Trả lời: Luận án định hình lộ trình lập pháp 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2023–2026) tập trung hoàn thiện các Thông tư liên tịch hướng dẫn Luật TTHC 2015 và tăng cường chế tài thi hành án theo Nghị định 71; Giai đoạn 2 (2026–2033) sửa đổi căn bản Luật TTHC và Luật Tổ chức VKSND, tái lập quyền khởi tố vụ án hành chính công ích cho VKSND và tích hợp nền tảng tố tụng điện tử toàn diện.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thị Thế là một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý xuất sắc, công phu, có tính thời sự và hàm lượng khoa học cao. Sáu đóng góp mang tính cột mốc của luận án gồm:

  1. Xác lập hệ thống lý luận hoàn chỉnh, hiện đại về vị trí, vai trò, chức năng của VKSND trong cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp hành chính tại Việt Nam.
  2. Xây dựng bộ tiêu chí khoa học 4 chiều đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTHC.
  3. Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng quy định và áp dụng pháp luật giai đoạn 1996–2021 qua chuỗi số liệu thực chứng 05 năm (2016–2021) từ VKSND tối cao.
  4. Nhận diện chính xác các khoảng trống lập pháp then chốt: việc bãi bỏ quyền khởi tố vụ án hành chính của VKS, sự bất cập trong thẩm quyền thu thập chứng cứ và sự bế tắc của cơ chế thi hành án hành chính.
  5. Khảo cứu sâu sắc kinh nghiệm lập pháp quốc tế (Nga, Trung Quốc, Bulgaria, các nước Tây Âu), rút ra các bài học có giá trị chuyển hóa cao cho Việt Nam.
  6. Đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và giải pháp lập pháp, nghiệp vụ đồng bộ, khả thi, gắn liền với Nghị quyết 27-NQ/TW về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.

Công trình không chỉ mở ra hướng tiếp cận mới cho khoa học luật tố tụng hành chính mà còn đóng vai trò là kim chỉ nam thực tiễn, góp phần xây dựng nền tư pháp Việt Nam liêm chính, công minh, phụng sự Tổ quốc và bảo vệ quyền con người.