Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế tỉnh Tây Ninh tăng trưởng mạnh mẽ với chỉ số GRDP năm 2019 tăng 8,4% và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018 đạt 64,54 điểm, các giao dịch thương mại gia tăng nhanh chóng kéo theo số lượng và tính chất phức tạp của các tranh chấp kinh doanh thương mại (KDTM). Theo số liệu từ ngành Kiểm sát, trong giai đoạn từ ngày 01/12/2017 đến ngày 30/05/2019, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) hai cấp tỉnh Tây Ninh đã thụ lý kiểm sát tổng cộng 229 vụ án KDTM sơ thẩm (120 vụ năm 2017, 79 vụ năm 2018 và 30 vụ trong 6 tháng đầu năm 2019). Dù số lượng thụ lý có xu hướng giảm, tính chất gay gắt về tài sản và mức độ phức tạp pháp lý của các vụ việc ngày càng tăng cao.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những rào cản, mâu thuẫn giữa các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 với thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử sơ thẩm án KDTM. Mục tiêu cụ thể là đánh giá toàn diện kết quả thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiến nghị và kháng nghị của VKSND tại địa phương, chỉ ra các nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan dẫn đến vi phạm tố tụng của Tòa án nhân dân (TAND), từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát KDTM. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại 9 đơn vị cấp huyện và cấp tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn 2017 đến giữa năm 2019. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần duy trì tỷ lệ Tòa án chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát đạt mức tuyệt đối 100% và kéo giảm triệt để số lượng bản án KDTM bị hủy, sửa có trách nhiệm của Kiểm sát viên về mức 0 vụ vào năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp và quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, lý thuyết kiểm soát tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được áp dụng nhằm khẳng định vị trí độc lập của VKSND trong việc bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và tự do kinh doanh của doanh nghiệp.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Hoạt động tố tụng của VKSND nhằm kiểm tra tính hợp pháp của các hành vi, quyết định do cơ quan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện.
  2. Tranh chấp kinh doanh thương mại: Các bất đồng, xung đột về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động có mục đích lợi nhuận giữa các chủ thể có đăng ký kinh doanh theo quy định tại Điều 30 BLTTDS năm 2015.
  3. Quyền yêu cầu, kiến nghị và kháng nghị: Các quyền năng pháp lý trực tiếp của Kiểm sát viên quy định tại Quyết định số 458/QĐ-VKSNDTC và Quyết định số 364/QĐ-VKSTC nhằm chấn chỉnh, khắc phục vi phạm tố tụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ 229 hồ sơ vụ án KDTM sơ thẩm được thụ lý tại VKSND hai cấp tỉnh Tây Ninh, kết hợp các báo cáo tổng kết ngành gồm Báo cáo số 216/BC-VKS năm 2017, Báo cáo số 266/BC-VKS năm 2018 và Báo cáo số 108/BC-VKS năm 2019.

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu khảo sát toàn bộ mẫu tổng thể (100% vụ án KDTM thụ lý với quy mô 229 vụ) trong mốc thời gian từ 01/12/2017 đến 30/05/2019 tại 9 đơn vị cấp huyện và cấp tỉnh Tây Ninh, đảm bảo tính đại diện tuyệt đối và không phát sinh sai số chọn mẫu.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Tác giả kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật (legal doctrinal analysis) với phân tích thống kê mô tả định lượng (tỷ lệ kiểm sát bản án đạt 100%, tỷ lệ kháng nghị được chấp nhận đạt 100%) và phương pháp phân tích án điển hình (case study định tính). Lý do lựa chọn kết hợp là nhằm đối chiếu trực tiếp giữa các điều luật thực định trong BLTTDS năm 2015, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC với các sai sót thực tế xảy ra trong từng giai đoạn tố tụng sơ thẩm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực chứng tại VKSND tỉnh Tây Ninh mang lại các phát hiện trọng tâm sau:

Thứ nhất, công tác kiểm sát thụ lý và kiểm sát bản án đạt độ bao phủ tuyệt đối 100%. Toàn bộ 229 vụ án KDTM thụ lý (120 vụ năm 2017, 79 vụ năm 2018 và 30 vụ trong 6 tháng đầu năm 2019) đều được lập hồ sơ kiểm sát riêng biệt. Số lượng bản án, quyết định sơ thẩm được kiểm sát chặt chẽ đạt tỷ lệ 100% (39/39 bản án năm 2017 và 43/43 bản án năm 2018).

Thứ hai, chất lượng thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm đạt hiệu quả tối đa. Trong giai đoạn 2017 – giữa năm 2019, VKSND hai cấp đã ban hành 16 bản kháng nghị (bao gồm kháng nghị cùng cấp và kháng nghị trên cấp), trong đó 100% kháng nghị đều được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận hoàn toàn. Tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm của VKSND cấp tỉnh trên tổng số vụ án bị TAND cấp tỉnh sửa hoặc hủy do nguyên nhân chủ quan tăng từ 60% (3/5 vụ năm 2017) lên 66,66% (10/15 vụ năm 2018).

Thứ ba, kiểm soát và kéo giảm triệt để tỷ lệ án hủy, sửa có trách nhiệm của VKSND. Số vụ án bị hủy, sửa có lỗi của Kiểm sát viên duy trì ở mức rất thấp với 01 vụ năm 2017 (chiếm 0,83%), 01 vụ năm 2018 (chiếm 1,26%) và giảm hoàn toàn về 0 vụ (0%) trong 6 tháng đầu năm 2019.

Thứ tư, nhận diện các điểm nghẽn pháp lý và sai phạm phổ biến của Tòa án sơ thẩm. Điển hình là việc TAND vi phạm thời hạn gửi quyết định tố tụng, xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp giữa dân sự và thương mại, lạm dụng quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ, điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 vào thời điểm tổng kết năm công tác (tháng 8 đến tháng 9 hàng năm) để tính lại thời hạn xét xử.

Thảo luận kết quả

Thực tiễn nghiên cứu cho thấy việc biểu diễn dữ liệu qua bảng thống kê chỉ tiêu công tác và biểu đồ so sánh số lượng án thụ lý (giảm từ 120 vụ xuống 79 vụ và 30 vụ) kết hợp tỷ lệ chấp thuận kháng nghị 100% giúp phản ánh rõ nét hiệu lực kiểm sát tại Tây Ninh. Nguyên nhân dẫn đến các hạn chế chủ yếu xuất phát từ sự không đồng bộ giữa Điều 30 BLTTDS năm 2015 và Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP trong việc phân định thẩm quyền đối với cá nhân không đăng ký kinh doanh nhưng có mục đích lợi nhuận.

Điển hình qua vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Shanghai và Công ty Der Jinh (Bản án số 03/2017/KDTM-ST của TAND huyện Trảng Bàng với giá trị vay 200.000 USD), Tòa án sơ thẩm đã bỏ sót không nhận định yêu cầu phạt chậm trả 5%, buộc VKSND phải kháng nghị sửa án. Tương tự, tại vụ án tranh chấp bồi thường 2,89 tỷ đồng giữa Công ty TH và ông Yang (Thông báo số 12/TB-VC3-V4), việc TAND bác yêu cầu xác minh địa chỉ cư trú của Kiểm sát viên buộc VKSND phải tự xác minh theo Điều 97 BLTTDS năm 2015 để bảo vệ kháng nghị. So sánh với các nghiên cứu tại các địa phương khác, kết quả tại Tây Ninh thể hiện rõ nét áp lực kiểm sát tại địa bàn biên giới cửa khẩu, đồng thời chứng minh tầm quan trọng của việc chủ động thu thập chứng cứ và số hóa 100% hồ sơ vụ án.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng dân sự: Kiến nghị Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi khoản 2 Điều 192 và Điều 194 BLTTDS năm 2015, quy định thời hạn bắt buộc Tòa án phải gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành; đồng thời bổ sung nghĩa vụ chuyển giao toàn bộ bản sao hồ sơ kèm theo. Hướng dẫn thi hành cụ thể quy trình thu thập, kiểm tra và sử dụng chứng cứ điện tử tại Điều 94, 95 BLTTDS năm 2015 với lộ trình hoàn thiện trong giai đoạn 2021-2025.
  2. Thống nhất áp dụng pháp luật và kiểm soát quyết định tố tụng: Đề nghị TAND Tối cao và VKSND Tối cao ban hành nghị quyết liên tịch thay thế Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP, chuẩn hóa việc áp dụng Điều 30 BLTTDS năm 2015 để phân biệt rõ tranh chấp KDTM và tranh chấp dân sự. TAND tỉnh Tây Ninh siết chặt quy trình ban hành quyết định tạm đình chỉ theo Điều 214 BLTTDS, đặt mục tiêu giảm 30% các quyết định tạm đình chỉ thiếu căn cứ phát sinh vào tháng 8 và tháng 9 hàng năm, áp dụng ngay từ năm 2021.
  3. Nâng cao chất lượng nghiệp vụ và kỹ năng tranh tụng: Lãnh đạo VKSND tỉnh Tây Ninh chỉ đạo tổ chức tối thiểu 04 phiên tòa rút kinh nghiệm/năm cho mỗi đơn vị trực thuộc theo tinh thần Quyết định số 458/QĐ-VKSNDTC và Quyết định số 399/QĐ-VKSNDTC. Tăng cường kỹ năng xây dựng bài phát biểu tại phiên tòa theo Điều 262 BLTTDS, phấn đấu duy trì 100% Kiểm sát viên làm chủ kỹ năng số hóa hồ sơ đến năm 2022.
  4. Hiện đại hóa cơ sở vật chất và số hóa chứng cứ: VKSND hai cấp tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng TAND cùng cấp đầu tư trang thiết bị công nghệ thông tin, thực hiện trình chiếu tài liệu, chứng cứ điện tử tại 100% các phiên tòa KDTM phức tạp giai đoạn 2021-2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên và cán bộ ngành Kiểm sát: Luận văn cung cấp cẩm nang thực hành nghiệp vụ chi tiết qua 3 giai đoạn tố tụng sơ thẩm, hệ thống hóa kỹ năng lập phiếu kiểm sát, kỹ thuật phát hiện vi phạm bản án và phương pháp xây dựng căn cứ kháng nghị phúc thẩm đạt tỷ lệ chấp nhận 100%.
  2. Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân: Nguồn tư liệu thực tiễn giúp nhận diện các lỗi nghiệp vụ thường gặp trong thụ lý đơn kiện, xác minh chứng cứ, tính toán lãi suất - phí phạt hợp đồng tín dụng và ban hành quyết định tạm đình chỉ, nhằm hạn chế tối đa các bản án bị hủy, sửa.
  3. Luật sư và chuyên viên pháp chế doanh nghiệp: Hỗ trợ nâng cao chiến lược tranh tụng, nắm vững cơ chế giám sát tư pháp của Viện kiểm sát để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trong các vụ án KDTM có tranh chấp tài sản lớn hoặc chứng cứ điện tử phức tạp.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật kinh tế: Tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực tiễn kết hợp phân tích quy phạm, cung cấp hệ thống số liệu thực chứng đáng tin cậy phục vụ nghiên cứu chuyên sâu về tố tụng dân sự.

Câu hỏi thường gặp

Kiểm sát viên có quyền tự mình xác minh, thu thập chứng cứ trong vụ án KDTM không? Theo khoản 3 Điều 58 BLTTDS năm 2015 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, Kiểm sát viên có quyền trực tiếp xác minh, thu thập chứng cứ theo các biện pháp tại Điều 97 BLTTDS nhằm phục vụ việc xem xét ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm hoặc bảo vệ quan điểm kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm.

Tại sao cần sửa đổi quy định về thời hạn gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện tại Điều 192 BLTTDS năm 2015? Khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2015 buộc Thẩm phán gửi văn bản trả lại đơn cho Viện kiểm sát nhưng không ấn định thời hạn cụ thể (ví dụ 03 ngày làm việc). Khoảng trống này khiến Viện kiểm sát nhận thông báo trễ hoặc không nhận được, cản trở quyền kiến nghị trong thời hạn 10 ngày theo Điều 194.

Tỷ lệ TAND chấp nhận các kháng nghị phúc thẩm của VKSND tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017-2019 đạt mức bao nhiêu? Trong suốt giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 5/2019, toàn bộ 16/16 bản kháng nghị (cùng cấp và trên cấp) do VKSND hai cấp tỉnh Tây Ninh ban hành đều được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, đạt tỷ lệ chính xác 100% nhờ việc xây dựng hồ sơ chứng cứ chặt chẽ.

Những khó khăn chính khi kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án KDTM là gì? Khó khăn lớn nhất là Thẩm phán thường viện dẫn lý do chờ kết quả ủy thác hoặc chờ đương sự cung cấp tài liệu theo Điều 214 BLTTDS vào thời điểm tháng 8-9 hàng năm để tránh án quá hạn tố tụng, trong khi luật không quy định thời hạn tạm đình chỉ tối đa.

Chứng cứ điện tử gặp rào cản gì trong xét xử và kiểm sát vụ án KDTM sơ thẩm? Dù Điều 94 và 95 BLTTDS năm 2015 công nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ, nhưng thực tiễn xét xử vẫn ưu tiên văn bản giấy truyền thống. Đương sự thường phải tốn chi phí lập vi bằng (khoảng 30% giá trị tài sản thu hồi) để chứng minh giá trị pháp lý độc lập của dữ liệu.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý luận về chức năng kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án KDTM theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và BLTTDS năm 2015.
  • Đánh giá thực chứng 229 vụ án KDTM tại tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017 – 6 tháng đầu năm 2019, phản ánh thành tích xuất sắc với tỷ lệ chấp nhận kháng nghị đạt 100% và giảm án hủy, sửa có lỗi VKS về mức 0 vụ.
  • Chỉ rõ các xung đột pháp lý trọng yếu về xác định quan hệ tranh chấp, thời hạn kiểm sát trả lại đơn khởi kiện và đánh giá chứng cứ dữ liệu điện tử.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao cho Quốc hội, TAND và VKSND hai cấp gắn liền với lộ trình cải cách tư pháp giai đoạn 2021-2025.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của giải pháp số hóa hồ sơ kiểm sát nhằm nâng cao năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm.

Để tiếp tục hoàn thiện kỹ năng kiểm sát và cập nhật các biểu mẫu nghiệp vụ KDTM mới nhất, quý độc giả và cán bộ tư pháp hãy tham khảo chi tiết toàn văn luận văn tại thư viện cơ sở đào tạo hoặc liên hệ trực tiếp đơn vị nghiên cứu để trao đổi chuyên môn.