Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN 1.Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án Theo từ điển Luật học thì "thẩm quyền" là: "quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề”. Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ những chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ. Văn kiện các Đại hội IX, X, XI, XII của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đều khẳng định: Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngủ tri thức; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là sự phân công hợp lý nhằm tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn, lẫn lộn giữa ba quyền cũng như trong nhiệm vụ và chức năng của từng cơ quan, bảo đảm hoạt động nhịp nhàng, sự phối hợp đồng bộ của cả bộ máy Nhà nước thực hiện quyền lực tập trung của Nhà nước.
Quyền tư pháp theo nghĩa rộng bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và bổ trợ tư pháp được giao cho các cơ quan Điều tra, Viên kiểm sát, Tòa án,. Trong đó Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005, của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định Tòa án là nơi mà kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa,.được kiểm tra, xem xét một cách công khai thông qua thủ tục tố tụng do pháp luật quy định để đưa ra những phán quyết cuối cùng mang tính chất quyền lực Nhà nước, nơi phản ánh một cách đầy đủ và sâu sắc nhất nền công lý của xã hội ta. Tòa án là cơ quan được Quốc hội phân công trực tiếp thực hiện quyền tư pháp có chức năng xét xử để bảo vệ pháp luật, bảo đảm lẽ phải và công bằng xã hội.
Bởi 5 Luan van vậy, quyền tư pháp theo nghĩa hẹp còn được hiếu là quyền xét xử của Tòa án. Thực hiện chức năng này, Tòa án có thẩm quyền xét xử các vụ án. Đây là chức năng đặc thù của Tòa án và chỉ có Tòa án mới được thực hiện chức năng xét xử. Theo Điều 102 Hiển pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, thì Tòa án nhân dân (gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định) là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam.
Khi xét xử Tòa án nhân danh Nhà nước để giải quyết vụ án. Như vậy, hơn bất kỳ một dạng hoạt động nào của Nhà nước, hoạt động xét xử phản ánh trục tiếp và sâu sắc bản chất của Nhà nước. Sai lầm của Tòa án trong việc giải quyết vụ án chính là sai lầm của Nhà nước. Vì thế đòi hỏi việc xét xử của Tòa án phải bảo đảm sự chính xác, công minh và thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Quyết định của Tòa án khác với biện pháp xử lý của các cơ quan hành chính. Sự khác biệt cơ bản là ở chỗ hoạt động xét xử được áp dụng những chế tài, kể cả hình phạt. Do vậy, “người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 31 Hiến pháp 2013). Việc xét xử của Tòa án được tiến hành theo những thủ tục chặt chẽ được pháp luật tố tụng quy định, còn việc xử lý của các cơ quan hành chính Nhà nước được tiến hành theo các thủ tục hành chính đơn giản, nhanh gọn hơn.
Vì thế hiệu lực của các phán quyết của Tòa án cũng cao hơn các biện pháp xử lý hành chính. Để bảo đảm cho Tòa án thực hiện tốt chức năng xét xử, Nhà nước trao cho Tòa án nhiều quyền năng pháp lý. Đó là khả năng mà pháp luật cho phép Tòa án giải quyết các vụ án Hình sự, Dân sự, Hôn nhân và gia đình, Kinh doanh - Thương mại, Lao động, Hành chính. Các quyền năng pháp lý này của Tòa án đều thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Thẩm quyền của mỗi cơ quan và cá nhân được phân định theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính, cấp hành chính. Mỗi cơ quan Nhà nước khi thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình đều hoạt động trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định với những quyền năng mà pháp luật cho phép. Sự phân định thẩm quyền là điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt động của bộ máy Nhà nước đồng bộ, nhịp 6 Luan van nhàng không trùng lắp, chồng chéo nhau. Khi thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn trong thẩm quyền, các quyết định và phán quyết của các cơ quan, cá nhân này được đảm bảo thi hành bằng các biên pháp cưỡng chế nhà nước.
Thấm quyền xét xử của Tòa án được hiểu là một quyền chuyên biệt trao riêng cho Tòa án, khác với thẩm quyền của các cơ quan khác. Thẩm quyền xét xử là quyền chung của các Tòa án không phân biệt phân cấp, phân vùng lãnh thổ. Thẩm quyền xét xử của Tòa án còn được hiểu là quyền riêng của từng Tòa án cụ thể được phân định theo cấp, theo khu vực hành chính và theo vụ việc. Thẩm quyền riêng của các Tòa án trong việc xét xử đựợc phân định dựa theo cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án gồm: Thẩm quyền xét xử theo sự việc; Thẩm quyền xét xử theo đối tượng; Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ.
Quy định về thẩm quyền xét xử của các Tòa án trong lĩnh vực hình sự, ở mỗi quốc gia cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như hệ thống pháp luật nói chung, và luật hình sự nói riêng; cách thức tổ chức của các cơ quan tư pháp; trình độ và năng lực của Thẩm phán; điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội,. Qua tìm hiểu pháp luật của một số nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa và hệ thống luật án lệ thấy rằng các Tòa án được tổ chức theo cấp xét xử: Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án tối cao. Tương ứng với các cấp xét xử đó, pháp luật quy định về thẩm quyền xét xử: - Tòa án sơ thẩm xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án; - Tòa án phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm khi vụ án bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị đối với các bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp; - Tòa án tối cao xét xử giám đốc thẩm Ở nước ta các Tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ (trừ Tòa án quân chủng Hải quân của ngành Tòa án quân sự): - Các Tòa án cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm; - Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu và tương 7 Luan van đương vừa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vừa có thẩm quyền xét xử phúc thẩm. - Các Tòa án cấp cao, Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc và tái thẩm.
- Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử giám đốc và tái thẩm. Mặc dù pháp luật các nước quy định rất khác nhau về thẩm quyền xét xử sơ thẩm nhưng đều dựa vào một số dấu hiêu của vụ án để phân định thẩm quyền xét xử. Có thể tổng hợp dấu hiệu đó thành những nhóm sau: - Nhóm thứ nhất là những dấu hiệu thể hiện tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm hoặc của vụ án. Những dấu hiệu này được đánh giá cả từ góc độ Luật hình sự lẫn Luật tố tụng hình sự.
Theo nhóm dấu hiêu này thì tội phạm càng nghiêm trọng, phức tạp càng đòi hỏi cấp Tòa án và người xét xử phải có năng lực hơn. Ví dụ, theo khoản 1 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ,thì Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sụ khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sụ về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng (những tội phạm có khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống). Đối với một số tội do tính chất phức tạp của loại án, tuy hình phạt được quy định từ 15 năm tù trở xuống nhưng vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực (Điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 268 Bộ luật hình sự năm 2015). Sự phân định thẩm quyền theo nhóm dấu hiệu này gọi là thẩm quyền xét xử theo việc để phân biệt thẩm quyền của Tòa án cấp huyện với Tòa án cấp tỉnh, giữa Tòa án quân sự khu vực với Tòa án quân sự cấp quân khu.
- Nhóm thứ hai là những dấu hiệu về không gian thực hiện tội phạm hoặc hành vi tố tụng. Theo nhóm dấu hiệu này, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “ Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra”. Sự phân định thẩm quyền theo nhóm dấu hiệu này gọi là thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ để phân biệt thẩm quyền xét xử của các Tòa án cùng cấp.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa 8 Luan van án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử.