Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ 1. Những vấn đề lý luận về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục đích và ý nghĩa của yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ - Khái niệm Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụng của KSV trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung và án hình sự về chức vụ nói riêng nhằm đảm bảo việc điều tra vụ án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật để xác định sự thật khách quan của vụ án, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Yêu cầu điều tra của KSV có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản.
Khái niệm về Bản yêu cầu điều tra Hiện nay chưa có khái niệm chính thức về bản yêu cầu điều tra. Qua tham khảo bài viết của một số tác giả khi nghiên cứu về bản YCĐT của KSV được đăng trên tạp chí ngành kiểm sát có thể đưa ra một số khái niệm về bản yêu cầu điều tra như sau: Theo quan điểm của tác giả Vũ Đức Thới [28, tr 15]. thì: “Bản yêu cầu điều tra là một văn bản pháp lý do Kiểm sát viên thực hiện trong quá trình giám sát hoạt động điều tra. Nhằm xác định điều tra vụ án đúng hướng và việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác đúng pháp luật nhằm tránh làm oan, sai và bỏ lọt tội phạm”.
8 Qua nghiên cứu và phân tích cho thấy khái niệm này đã làm rõ và xác định được giá trị của bản yêu cầu điều tra; chủ thể là KSV ban hành trong quá trình thực hiện chức năng THQCT và KSĐT vụ án hình sự. Tuy nhiên hạn chế của khái niệm này là chưa làm rõ được mục đích và ý nghĩa của việc ban hành yêu cầu điều tra do đó chưa thỏa mãn được yêu cầu của khái niệm bản yêu cầu điều tra. Theo quan điểm nghiên cứu của tác giả Bùi Mạnh Cường [2, tr. và tác giả Vũ Việt Hùng thì: “Bản yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra thực hiện (ban hành), nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật”.
Qua nghiên cứu và phân tích, chúng tôi thống nhất cao với quan điểm của tác giả Bùi Mạnh Cường và tác giả Vũ Việt Hùng về khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV. Khái niệm này không chỉ làm rõ được giá trị pháp lý, chủ thể ban hành trong giai đoạn nào của TTHS mà còn lãm rõ được nội hàm của khái niệm bản yêu cầu điều tra, mục đích, ý nghĩa của việc ban hành bản yêu cầu điều tra. Khi đưa ra khái niệm về bản yêu cầu điều tra, các tác giả đều dựa trên các quy định của pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ của VKS, của KSV trong việc ban hành bản yêu cầu điều tra khi THQCT và KSĐT vụ án hình sự, từ đó xác định nội dung, phạm vi và ý nghĩa của bản YCĐT để khái quát chúng thành khái niệm. Tuy nhiên, do sự thay đổi của các quy định pháp luật và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới đặc biệt là đối với tội phạm về chức vụ, đòi hỏi VKS phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, theo đó “Viện kiểm sát các cấp chủ động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra đảm bảo có căn cứ, sát với nội dung vụ án”.
Do vậy khái niệm về bản yêu 9 cầu điều tra cũng được nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn. Trên cơ sở kế thừa các quan điểm về khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV của các tác giả nêu trên đồng thời trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật thực định, nội hàm của bản yêu cầu điều tra, tác giả đưa ra khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ như sau: “Bản yêu cầu điều tra là văn bản tố tụng do Kiểm sát viên ban hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ theo quy định của pháp luật TTHS, nêu rõ những vấn đề cần yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, làm rõ tội phạm, người phạm tội và những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự hoặc để hoàn thiện các thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm việc điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan, sai và không bỏ lọt tội phạm”. - Yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ có những đặc điểm cơ bản sau: - Yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ là văn bản pháp lý trong TTHS do KSV được giao nhiệm vụ THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ ban hành. Bản yêu cầu điều tra phải được đưa vào hồ sơ vụ án hình sự và lưu hồ sơ kiểm sát theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng và quy định tại khoản 1 Điều 47 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao.
- Yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ của KSV có tính chất định hướng cho hoạt động điều tra giúp cho việc điều tra, xử lý vụ án được tiến hành một cách khách quan, nhanh chóng và kịp thời. Do đó, ĐTV được phân công điều 10 tra vụ án và CQĐT phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu điều tra của VKS (quy định tại khoản 1 Điều 167 BLTTHS và khoản 2 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng). - Trong một vụ án hình sự về chức vụ, KSV có thể ban hành một hoặc nhiều yêu cầu điều tra nếu trong quá trình điều tra, KSV thấy còn có những vấn đề cần điều tra mà ĐTV chưa thực hiện nhằm bảo đảm để ĐTV kịp thời thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu của vụ án. Do đó, yêu cầu điều tra của KSV mang tính chất pháp lý đặc thù so với các văn bản tố tụng hình sự khác.
Đây chính là điểm khác biệt giữa yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ của KSV với bản kế hoạch điều tra vụ án của ĐTV bởi vì, bản kế hoạch điều tra vụ án về chức vụ do ĐTV xây dựng để báo cáo Lãnh đạo duyệt và tiến hành các hoạt động điều tra theo kế hoạch. Nội dung bản kế hoạch điều tra vụ án về chức vụ bao gồm: Căn cứ lập kế hoạch, mục đích, yêu cầu, nội dung điều tra, biện pháp tiến hành, dự kiến các tình huống xảy ra, báo cáo và đề xuất. Nó mang tính chất nội bộ của CQĐT không mang tính pháp lý bắt buộc và không được đưa vào hồ sơ vụ án. - Vai trò, mục đích và ý nghĩa của YCĐT Thông qua YCĐT, KSV thể hiện rõ được quan điểm của mình trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ, nhằm mục đích làm rõ những vấn đề cần điều tra thu thập chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố các vụ án hình sự về chức vụ được khách quan, toàn diện, kịp thời, đúng pháp luật, tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động THQCT và kiểm sát hoạt động xét xử của KSV tại phiên tòa.
Yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc điều tra vụ án nói riêng và cả quá trình xử lý vụ án nói chung, đó là: 11 + Yêu cầu điều tra có tính định hướng cho công tác điều tra nói chung và xử lý vụ án, bị can nói riêng. + Yêu cầu điều tra giúp cho việc điều tra, xử lý vụ án được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời. + Yêu cầu điều tra còn có ý nghĩa khẳng định vị trí, vai trò của VKS; uy tín, năng lực, trình độ của KSV trong hoạt động THQCT ở giai đoạn điều tra VAHS. Thực tế cho thấy, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ được KSV ban hành kịp thời, đúng thời điểm và có chất lượng sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với kết quả điều tra của CQĐT “ bảo đảm cho hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ khách quan, toàn diện, đầy đủ” [9, tr.2] và đúng hướng.
Đồng thời, giúp ĐTV khắc phục ngay những thiếu sót trong giai đoạn điều tra nhằm giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và triệt để, góp phần hạn chế oan, sai hoặc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Thông qua đó, uy tín của KSV, của VKS đối với ĐTV và CQĐT được nâng cao. Ngược lại, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ có nội dung chung chung, khó thực hiện hoặc không thể thực hiện được làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, thậm chí còn làm chệch hướng điều tra.