Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Những vấn đề chung về Viện kiểm sát nhân dân 1. Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân Trong gần 55 năm qua, theo quy định của Hiế n pháp năm 1959, Hiế n pháp năm 1980, Hiế n pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2014, trong Bộ máy của nhà nƣớc ta đã duy trì một hệ thố ng thố ng nhấ t của Viện kiểm sát nhân dân. Về tổ chƣ́c, Viện kiểm sát nhân dân tố i cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng và Viện kiểm sát quân sự tạo thành một hệ thố ng, theo đó Viện kiểm sát nhân dân cấ p dƣới chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấ p trên, các Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng và Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thố ng nhấ t của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tố i cao.
Viện trƣởng, các Phó Viện trƣởng và Kiể m sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng và Viện kiểm sát các quân khu và khu vực do Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tố i cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tố i cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc Quố c hội, trong thời gian Quố c hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc Ủy ban Thƣờng vụ Quố c hội và Chủ tịch nƣớc. Nhiệm kỳ của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tố i cao theo nhiệm kỳ của Quố c hội. Bắ t đầ u từ Hiế n pháp năm 1992 có thêm trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng báo cáo trƣớc Hội đồ ng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phƣơng và trả lời chấ t vấ n của đại biể u Hội đồ ng nhân dân.
Nhƣ vậy, xét về vị trí và về tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân hiện nay ở Việt Nam là một hệ thố ng cơ quan độc lập và thố ng nhấ t do Hiến pháp quy định. 9 z Tính thố ng nhấ t đƣợc thể hiện: Viện trƣởng Viện kiểm sát cấ p dƣới chịu sƣ̣ lãnh đạo của Viện trƣởng Viện kiểm sát cấ p trên. Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng chịu sƣ̣ lãnh đạo thố ng nhấ t của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trƣởng, các Phó Viện trƣởng và Kiể m sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng và Viện kiểm sát quân sự các quân khu và khu vƣ̣c đều do Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Tính độc lâ ̣p thể hiện: Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngƣời đứng đầ u hệ thố ng thố ng nhấ t đó chịu trách nhiệm và báo cáo trƣớc Quố c hội; trong thời gian Quố c hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc Ủy ban Thƣờng vụ Quố c hội và Chủ tịch nƣớc. Ở các địa phƣơng, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm báo cáo công tác trƣớc Hội đồng nhân dân và trả lời chấ t vấ n của đại biể u Hội đồng nhân dân. Vị trí và những chức năng của viện kiểm sát nhân dân là hoàn toàn phù hợp cho việc phát huy vai trò và tính chấ t của cơ quan giám sát công quyề n – Là một thiế t chế quyề n lƣ̣c hoàn toàn đứng trên lập trƣờng vì lợi ích chung của nhân dân, của Nhà nƣớc để duy trì pháp luật, bảo đảm cho pháp luật và lợi ích của nhân dân, bảo đảm quyền con ngƣời, quyề n và lợi ích hợp pháp của công dân đƣợc tôn trọng và bảo vệ. Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát đƣợc tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng, bao gồm: a,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); b,Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); c,Viện kiểm sát 10 z quân sự (bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ƣơng, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tƣơng đƣơng (gọi tắt là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu) và Viện kiểm sát quân sự khu vực [22].
Hiến pháp năm 2013, có sự điều chỉnh về tổ chức của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, tại điều 107, quy định hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân gồm: Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân khác do luật định [25]. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (luật số 63/2014/QH13) đƣợc Quốc Hội khóa 13 thông qua ngày 24/11/2014, có hiệu lực thi hành kể từ 01/06/2015, thì hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: a.Viện kiểm sát nhân dân tối cao; b. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; c. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); d.
Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tƣơng đƣơng (gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); e. Viện kiểm sát quân sự các cấp [26]. Viện kiểm sát nhân dân đƣợc tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc ta nói chung và những nguyên tắc đặc thù: nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ một cơ quan nhà nƣớc nào ở địa phƣơng. Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân Bất cứ Nhà nƣớc nào trên thế giới cũng phải sử dụng quyền công tố để chống lại hành vi nguy hại đến sự thống trị và những lợi ích cơ bản của giai cấp cầm quyền và cũng để duy trì trật tự pháp luật, trật tự xã hội, bảo vệ quyền con ngƣời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội.
Lịch sử tƣ pháp và theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, thì quyền công tố đƣợc giao cho 11 z Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố thông qua chức năng và nhiệm vụ của mình. Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân đƣợc quy định tại Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm 2013 và các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, 2014 đều quy định Viện kiểm sát đƣợc giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp. Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng những công tác sau đây: a) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; b) Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp mà ngƣời phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tƣ pháp; c) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; d) Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; e) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; f) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục ngƣời chấp hành án phạt tù [22].
Điều 3, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì, thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nƣớc đối với ngƣời phạm tội, đƣợc thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [26]. Theo đó, thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân nhằm 12 z đảm bảo phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật, mọi hành vi phạm tội, ngƣời phạm tội, không làm oan ngƣời vô tội, không để lọt tội phạm và ngƣời phạm tội; đồng thời không để ngƣời nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con ngƣời, quyền công dân trái pháp luật. Điều 4, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, thì kiểm sát hoạt động tƣ pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tƣ pháp, đƣợc thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tƣ pháp; các hoạt động tƣ pháp khác theo quy định của pháp luật [26]. Về nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có điều chỉnh theo hƣớng sắp xếp lại thứ tự quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng Viện Nam hiện nay và quy định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con ngƣời, bảo vệ quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần bảo đảm pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, quy định các công tác của Viện kiểm sát nhân dân, gồm 3 nội dung cơ bản.