Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE SỰ THAM GIA CUA LUẬT SƯ TRONG TO TUNG DAN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở của sự tham gia của luật sư trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm về sự tham gia của luật sư trong tố tụng dân sự Theo nhận xét của một số nhà nghiên cứu, thì quyền bào chữa xuất hiện sớm nhất ở Châu Âu cùng voi sự xuất hiện của Tòa án và người biện hộ (luật su) xuất hiện cùng thẩm phán!. Trong quá trình phát triển của hệ thống pháp luật t6 tụng trên thé giới, sự hiện diện của luật sư tại các phiên xét xử của Tòa án và sự tham gia của luật sư trong các giai đoạn tố tụng khác đều được pháp luật của các quốc gia ghi nhận và qui định một cách cụ thể.
Cho đến nay, luật sư (lawyer) được giải nghĩa là người được cấp phép dé hành nghề luật sư? hoặc là chuyên viên về luật pháp được phép biện cãi tại toa? (luật sư được phép cãi trước tòa — barrister) hoặc là người có giấy chứng nhận hành nghề, có phạm vi hoạt động trong lĩnh vực pháp luật rộng lớn, chịu trách nhiệm về việc tư van pháp lý và hướng dẫn các thủ tục tô tung đúng luật (luật sư tư van - solicitor). Ở Việt Nam, lich sử của nghề luật sư có lẽ bắt dau từ đầu thé ky 20 khi Pháp đô hộ Việt Nam°. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 46/SL về tổ chức đoàn thé luật sư, sự kiện này là một dấu mốc quan trọng trong việc ghi nhận vi trí, vai trò của luật sư. Sau đó, các văn bản pháp luật qui định về luật sư tiếp tục được hoàn thiện và ban hành: Pháp lệnh tô chức luật sư số 2A-LCT/HĐNN do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 18/12/1987; Pháp lệnh số 37/2001/PL- UBTVQHI0 về luật sư do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 25/07/2001; Luật Luật sư số 65/2006/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 29/06/2006; Luật sửa ! Nguyễn Văn Tuân (2014), Pháp luật về Luật sư và đạo đức nghề nghiệp Luật sư, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.
Garner (2009), Black’s Law Dictionary, 9° Edition, Thomson Reuters, USA, tr. 3 Nguyễn Thành Minh (chủ biên, 1998), Từ điển pháp luật Anh — Việt, NXB Thé giới, Hà Nội, tr. Nguyễn Thanh Minh (chủ biên, 1998), Từ điển pháp luật Anh — Việt, NXB Thể giới, Hà Nội, tr. 5 Trương Nhật Quang (2013), Kỹ năng hành nghề Luật sư tư van, NXB Lao động, Hà Nội, tr.
đối, bô sung một số điều của Luật Luật sư số 20/2012/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 20/11/2012. Theo qui định hiện hành, luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo qui định của Luật luật sư, được phép thực hiện các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tô chức. Tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo qui định của Luật luật sư yêu cầu luật sư phải là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư, có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư. Những dịch vụ pháp lý mà luật sư có thể cung cấp bao gồm việc tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của nguyên don, bị đơn, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vu án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yeu cau dan su, hén nhan va gia dinh, kinh doanh, thuong mai, lao động và các vụ, việc khác theo qui định cua pháp luật; thực hiện tư van phap luật.
Mặt khác, từ góc độ học thuật, nghiên cứu, đã có nhiều công trình khoa học đưa ra các khái niệm khác nhau về luật sư, có thể kế đến các quan điểm sau: ludt sư là chuyên gia pháp luật; là cố vấn pháp lý mà ở họ có kỹ năng nghề nghiệp thực thụ: luật su là người có du các điều kiện về năng lực pháp luật, kiến thức pháp lý, kỹ năng hành nghé được Cơ quan nhà nước có thẩm quyên công nhận được hành nghệ luật su thông qua việc cấp chứng chỉ: hành nghệ luật sư, tiễn hành các hoạt động nghé nghiệp theo yêu cầu của khách hàng trên cơ sở tôn trọng pháp luật và đạo đức nghệ nghiệp"; luật sư là một chức danh tu pháp độc lập, theo đó những người có du diéu kiện hành nghề luật su theo qui định của pháp luật Việt Nam được cơ quan nhà nước có thẩm quyên Việt Nam công nhận quyên tham gia to tụng, tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác nhằm bảo về quyên lợi, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa.Š Có thé thay, những quan điêm về luật sư đêu phân nào phản ánh những điêm đặc thù và nôi bat 5 Lê Hồng Hạnh (2002), Đạo đức & kỹ năng của Luật sư trong nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, Tr. 14 7 Nguyễn Văn Minh (2011), Luật sư trong tố tụng dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, Tr. 08 8 Hoàng Mậu Thành (2013), Bảo đảm hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, Tr. của luật sư với tư cách là chủ thể tham gia tích cực trong các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
Như vậy, cả luật thực định và các công trình học thuật đều thừa nhận ba đặc điểm nổi bật sau đây của một luật sư: (1) được cấp phép hành nghề luật su; (2) có kiến thức pháp lý, kỹ năng hành nghề và đạo đức nghề nghiệp; (3) thực hiện các dịch vụ pháp lý, đại điện, nhân danh khách hàng tham gia các giai đoạn tố tụng theo qui định của pháp luật dé đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Đối với khái niệm “sự tham gia”, theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam phát hành, thì sự tham gia được hiểu là đự vào (có mặt trong hoạt động nào đó), góp phan vào, theo từ điển tiếng việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì tham gia được hiểu là góp phan hoạt động của mình vào một hoạt động, một tổ chức chung nào dé". Như vậy, có thê hiểu rang, sự tham gia của luật sư trong tô tụng dân sự là sự có mặt, sự hiện diện của luật sư trong các giai đoạn t6 tung dan su nham muc dich gop phan hoạt động của minh vào một hoạt động chung nhằm giải quyết vụ việc dân sự một cách khách quan, đúng đắn, nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo quyên và lợi ich hợp pháp của các bên. Về mặt hình thức, theo qui định của pháp luật hiện hành, luật sư có thể tham gia các giai đoạn tố tụng với một trong hai tư cách sau: (1) người đại diện của đương sự theo qui định tại Điều 85 BLTTDS 2015 và (2) người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo qui định tại Điều 75 BLTTDS 2015.
Về mặt nội dung, sự tham gia tô tụng dân sự của luật sư được hiểu là quá trình thực hiện quyền và nghĩa vu của luật sư trong tố tụng dân sự. Những quyền và nghĩa vụ này được qui định cụ thé trong các văn bản pháp luật (Điều 76. Quyền va nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và Điều 86. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện).
Nói cách khác, nếu như quá trình tố tụng dân sự là các trình tự, thủ tục mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ một cách chặt chẽ nhằm mục đích tối cao là giải quyết vụ việc một cách chính xác, đúng đắn, nhanh chóng, hiệu quả, thì luật sư, với tư cách là một chủ thể đặc thù, tại từng giai đoạn của qui trình đó, trong phạm vi mà pháp luật cho phép, sử dụng quyên và thực hiện nghĩa vụ của mình một cách hiệu quả nhât đê, cùng các chủ thê khác, đạt được ° Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Nguyễn Như Y (chủ biên, 1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa — Thông tin, Hà Nội, tr. ; ; 10 Viện ngôn ngữ hoc, Hoang Phê (chu biên, 1994), Từ điên Tiêng Việt, NXB Giáo dục, Ha Nội, tr. 878 mục đích chung là xác định sự thật khách quan của vụ việc, qua đó, bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích của thân chủ. Từ những phân tích trên, có thé đưa ra định nghĩa khái quát về sự tham gia của luật sư trong tố tụng dân sự như sau: Sự tham gia cua luật su trong to tung dan su la sự góp mat, hiện điện cua luật sư trong các giai đoạn to tụng dân sự, voi tu cách là người đại diện hợp pháp hoặc người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự, thông qua các hoạt động nghệ nghiệp cu thé của luật sư dé góp phan lam sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc, bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của đương sự, và góp phan hoàn thiện hệ thong pháp luật.
Đặc điểm sự tham gia của luật sư trong tô tụng dân sự Thứ nhất, sự tham gia của luật sư trong tô tụng dân sự phải tuân theo trình tự, thủ tục do luật định và theo Qui tắc đạo đức và ung xử nghề nghiệp luật su Việt Nam. Khi tham gia các hoạt động tô tụng dân sự, luật sư phải tuyệt đối tuân thủ theo các qui định pháp luật về tố tụng dân sự. Nếu tham gia với tư cách là người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự, luật sư phải xuất trình thẻ luật sư và giấy yêu cầu luật sư của khách hàng khi làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại Tòa án. Nếu tham gia với tư cách là người đại diện theo ủy quyên, luật sư phải xuất trình văn bản ủy quyền của đương sự.
Trong từng giai đoạn tố tụng, luật sư chỉ được thực hiện những quyền mà pháp luật đã qui định (ví dụ như: quyên thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tai liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án; quyền tham gia việc hòa giải, phiên họp, phiên tòa, .