Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án nhân dân giữ vị trí trung tâm thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Khi phát sinh mâu thuẫn trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, thiết chế Tòa án là công cụ hữu hiệu để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho các bên. Trong quá trình giải quyết vụ án, việc xác định chính xác và đầy đủ phạm vi xét xử là hoạt động nền tảng định hướng cho toàn bộ tiến trình tố tụng, bảo đảm Tòa án ra phán quyết khách quan, đúng pháp luật, không xét xử thiếu hoặc vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự.
Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) đã quy định nhiều nội dung liên quan, song pháp luật tố tụng dân sự hiện hành vẫn chưa có quy định định nghĩa tường minh về phạm vi xét xử vụ án dân sự nói chung và phạm vi xét xử sơ thẩm nói riêng. Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp còn gặp nhiều khó khăn trong việc phân định ranh giới yêu cầu nào của đương sự được chấp nhận giải quyết, yêu cầu nào vượt quá giới hạn tố tụng. Việc xác định sai lệch phạm vi xét xử dẫn đến tình trạng vụ án không được giải quyết triệt để, kéo dài thời gian, làm phát sinh chi phí và khiến bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp trên hủy bỏ để xét xử lại.
Trước yêu cầu cấp thiết từ lý luận và thực tiễn, tác giả Nguyễn Tuấn Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp "Phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án" thuộc chuyên ngành Luật tố tụng dân sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2022) dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Vũ Hoàng Anh. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án, bao gồm khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở khoa học và mối quan hệ giữa phạm vi xét xử với các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự.
- Phân tích có hệ thống nội dung các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về phạm vi xét xử ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, làm rõ các căn cứ xác định cũng như các yếu tố làm thay đổi phạm vi xét xử trong từng giai đoạn tố tụng.
- Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về phạm vi xét xử tại hệ thống Tòa án nhân dân, chỉ ra các kết quả đạt được, những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân phát sinh trong hoạt động áp dụng pháp luật.
- Đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật tố tụng dân sự về phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án.
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào những vấn đề lý luận về phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án nói chung và của từng cấp xét xử nói riêng, hệ thống quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài giới hạn trong phạm vi xét xử vụ án dân sự tại hai cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm. Khóa luận không nghiên cứu phạm vi xét xử đối với việc dân sự, vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn, đồng thời không nghiên cứu thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm do hai thủ tục này mang bản chất là hoạt động tự kiểm tra, xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong nội bộ ngành Tòa án chứ không phải là cấp xét xử độc lập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, coi đây là kim chỉ nam định hướng việc tiếp cận các hiện tượng pháp lý trong mối quan hệ vận động, phát triển và gắn liền với thực tiễn xã hội.
Về mặt lý thuyết, tác giả kế thừa và vận dụng hệ thống khái niệm, quan điểm từ các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý tiêu biểu, bao gồm: luận văn thạc sĩ của Đỗ Huyền Ngọc (2015) về phạm vi xét xử của Tòa án trong các vụ án dân sự; khóa luận của Thái Thị Hương về phạm vi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; luận văn thạc sĩ của Vũ Hoàng Anh (2017) về quyền của nguyên đơn trong tố tụng dân sự; luận văn của Lê Thị Thu Thủy (2017) về quyền khởi kiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; công trình của Chu Long Kiếm (2018) về phản tố của bị đơn tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; luận văn của Nguyễn Thị Tuyết (2019) về nguyên tắc tự định đoạt của đương sự tại Tòa án tỉnh Bắc Ninh; cùng các bài viết chuyên khảo của Bùi Thị Huyền (2020), Phạm Thị Thúy (2018), Dương Tấn Thanh (2019) trên Tạp chí Luật học và Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử.
Khung pháp lý được tác giả sử dụng làm cơ sở phân tích bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 102, Điều 103 về vị trí, chức năng và nguyên tắc tổ chức của Tòa án nhân dân).
- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019 (BLTTDS).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS).
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (dùng so sánh giới hạn xét xử theo Điều 298).
- Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm.
- Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Văn bản giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 của TANDTC giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ.
- Quyết định số 363/QĐ-VKSTC của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quy định về hướng dẫn hoạt động của kiểm sát viên tại phiên tòa.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả áp dụng bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích cấu trúc các điều luật, quy phạm pháp luật tố tụng dân sự và tổng hợp các luận điểm lý luận pháp lý để làm sáng tỏ bản chất khái niệm phạm vi xét xử.
- Phương pháp phân tích, đánh giá thực tiễn: Đánh giá các vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật tại Tòa án các cấp.
- Phương pháp thống kê, đối chiếu: Thống kê các tài liệu, bản án, số liệu thực tiễn và đối chiếu giữa các quy định của pháp luật nội dung với pháp luật hình thức để rút ra kết luận khoa học.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bắt nguồn từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của TANDTC và VKSNDTC, giáo trình luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, cùng các báo cáo, tài liệu thực tiễn xét xử được trích dẫn trong công trình.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án
Chương 1 xây dựng hệ thống nền tảng lý luận về chế định phạm vi xét xử vụ án dân sự. Tác giả đi từ việc phân tích các khái niệm cấu thành như "vụ án dân sự", "xét xử", "nguyên tắc hai cấp xét xử" để đưa ra định nghĩa khoa học: Phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án là giới hạn những nội dung, vấn đề mà Tòa án phải xem xét giải quyết dựa trên yêu cầu của các chủ thể trong quan hệ tranh chấp dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Khóa luận phân loại phạm vi xét xử thành hai cấp: phạm vi xét xử sơ thẩm (xác định trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) và phạm vi xét xử phúc thẩm (xác định dựa trên kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát trong giới hạn những vấn đề đã được cấp sơ thẩm xét xử).
Tác giả xác định ba đặc điểm cốt lõi của phạm vi xét xử vụ án dân sự:
- Phạm vi xét xử được xác định theo yêu cầu của các đương sự, bắt nguồn từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.
- Phạm vi xét xử có tính chất mềm dẻo, linh hoạt, có thể bị thay đổi (mở rộng, thu hẹp hoặc chấm dứt) tùy thuộc vào hành vi tố tụng và sự thỏa thuận của các bên đương sự. Đặc điểm này phân biệt rõ nét với tố tụng hình sự (phạm vi xét xử bị ràng buộc bởi quyết định truy tố của Viện kiểm sát theo Điều 298 BLTTHS) và tố tụng hành chính.
- Đối tượng hướng đến của phạm vi xét xử là những tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng trong quan hệ pháp luật dân sự mà các đương sự tham gia với tư cách là các chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý.
Về cơ sở khoa học, phạm vi xét xử được hình thành dựa trên ba nền tảng: quyền tự định đoạt của đương sự; chức năng thực hiện quyền tư pháp của Tòa án gắn liền với nguyên tắc bảo đảm chế độ hai cấp xét xử; và đòi hỏi vụ án dân sự phải được giải quyết khách quan, toàn diện, dứt điểm, triệt để.
Chương 1 cũng làm sáng tỏ mối quan hệ chặt chẽ giữa phạm vi xét xử với các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng dân sự: nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; và các nguyên tắc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự.
| Tiêu chí so sánh |
Cấp sơ thẩm |
Cấp phúc thẩm |
| Cơ sở phát sinh phạm vi xét xử |
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu phản tố của bị đơn; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. |
Kháng cáo của đương sự; kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. |
| Bản chất giai đoạn xét xử |
Giải quyết lần đầu nội dung tranh chấp giữa các chủ thể. |
Xét xử lại, kiểm tra tính hợp pháp, đúng đắn của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. |
| Giới hạn thay đổi, bổ sung yêu cầu |
Được tự do thay đổi trước phiên họp hòa giải; tại phiên tòa bị giới hạn không được vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu (Khoản 1 Điều 244 BLTTDS). |
Trong thời hạn kháng cáo/kháng nghị không bị giới hạn phạm vi ban đầu; sau đó không được vượt quá phạm vi kháng cáo/kháng nghị ban đầu và không vượt quá phạm vi xét xử sơ thẩm (Điều 284 BLTTDS). |
| Quyền rút đơn của nguyên đơn |
Tự quyết định rút đơn; Tòa án đình chỉ giải quyết phần rút mà không phụ thuộc ý chí của bị đơn. |
Phụ thuộc vào sự đồng ý của bị đơn theo Khoản 1 Điều 299 BLTTDS và Điều 18 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP. |
| Văn bản pháp lý áp dụng chủ yếu |
BLTTDS 2015, Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP, Văn bản 01/2017/GĐ-TANDTC. |
BLTTDS 2015, Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP, Quyết định 363/QĐ-VKSTC. |
Chương 2: Nội dung các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh phạm vi xét xử ở hai cấp xét xử:
Đối với cấp sơ thẩm:
- Cơ sở xác định phạm vi xét xử sơ thẩm dựa trên tổng hợp các yêu cầu hợp lệ của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
- Các yếu tố làm thay đổi phạm vi xét xử sơ thẩm bao gồm:
- Đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (trước phiên hòa giải), đương sự có quyền thay đổi, bổ sung mà không bị giới hạn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận nếu không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu theo Khoản 1 Điều 244 BLTTDS. Tác giả phân tích 3 tiêu chí lý luận về "không vượt quá phạm vi ban đầu" (về quan hệ pháp luật, về giá trị yêu cầu, về chủ thể nghĩa vụ) và khẳng định: không vượt quá phạm vi ban đầu nghĩa là không đưa ra thêm quan hệ pháp luật tranh chấp mới độc lập ngoài các quan hệ pháp luật Tòa án đang thụ lý giải quyết; việc tăng mức bồi thường hay tăng tiền lãi theo thời gian không bị coi là vượt quá phạm vi.
- Đương sự rút yêu cầu: Được xử lý theo Điều 217 và Điều 245 BLTTDS, kết hợp mục 7 Phần IV Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC về việc chuyển đổi tư cách tố tụng và đình chỉ phần yêu cầu được rút.
- Đương sự tự thỏa thuận hoặc hòa giải thành: Theo quy định tại Điều 205, Điều 206, Điều 207, Điều 212 BLTTDS, dẫn đến đình chỉ vụ án hoặc thu hẹp phạm vi xét xử tại phiên tòa vào các phần chưa thỏa thuận được.
- Các trường hợp đặc biệt Tòa án giải quyết vượt ra ngoài yêu cầu của đương sự để bảo đảm thi hành pháp luật nội dung: Cụ thể như giải quyết tài sản gắn liền với đất khi xử lý quyền sử dụng đất thế chấp theo Khoản 1 Điều 325 BLDS 2015, hoặc buộc mở lối đi cần thiết khi phân chia di sản thừa kế theo Khoản 3 Điều 254 BLDS 2015.
Đối với cấp phúc thẩm:
- Cơ sở xác định phạm vi xét xử phúc thẩm là nội dung kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát theo Điều 293 BLTTDS. Tòa án phúc thẩm chỉ xem xét phần có kháng cáo, kháng nghị hoặc các phần có liên quan trực tiếp đến nội dung kháng cáo, kháng nghị.
- Trường hợp đặc biệt: Nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại cấp phúc thẩm theo Điều 299 BLTTDS và Điều 18 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP. Tòa án chỉ chấp nhận việc rút đơn và ra quyết định hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án khi có sự đồng ý của bị đơn. Tác giả chỉ ra lỗ hổng pháp lý: điều luật chưa đề cập đến quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và chưa quy định về việc bị đơn rút yêu cầu phản tố tại cấp phúc thẩm.
- Yếu tố làm thay đổi phạm vi xét xử phúc thẩm: Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị theo Điều 284 BLTTDS, Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP và việc kiểm sát viên xử lý kháng nghị theo Khoản 5, Khoản 6 Quyết định số 363/QĐ-VKSTC của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Chương 3 tổng kết việc thi hành các quy định pháp luật trong thực tiễn xét xử tại Tòa án các cấp. Tác giả phân tích các mặt tích cực đạt được trong việc bảo vệ quyền định đoạt của đương sự, đồng thời chỉ rõ những tồn tại, hạn chế:
- Tình trạng nhận thức và áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án về khái niệm "không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu", dẫn đến việc có Tòa án bác bỏ yêu cầu tính thêm tiền lãi phát sinh của nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm.
- Bất cập trong quy định tại Điều 299 BLTTDS khi chỉ quy định quyền đồng ý của bị đơn mà bỏ quên quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện ở cấp phúc thẩm.
- Thiếu vắng quy định rõ ràng về quyền và thủ tục rút yêu cầu phản tố của bị đơn, rút yêu cầu độc lập của người liên quan tại giai đoạn xét xử phúc thẩm.
Trên cơ sở phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan, tác giả đề xuất các nhóm kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện BLTTDS năm 2015:
- Ban hành văn bản hướng dẫn giải thích rõ ràng khái niệm "không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu" tại Khoản 1 Điều 244 BLTTDS theo hướng: chỉ coi là vượt quá phạm vi khi phát sinh quan hệ pháp luật tranh chấp mới hoàn toàn độc lập; không coi là vượt quá đối với việc gia tăng giá trị yêu cầu tài sản, tiền lãi phát sinh từ cùng một quan hệ hợp đồng ban đầu.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 299 BLTTDS năm 2015 theo hướng ghi nhận đầy đủ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại cấp phúc thẩm.
- Bổ sung quy định rõ ràng về quyền rút yêu cầu phản tố và quyền rút yêu cầu độc lập ở cấp phúc thẩm, tạo sự bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các đương sự trong việc thực hiện quyền tự định đoạt.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án:
- Về mặt lý luận: Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống định nghĩa khoa học về phạm vi xét xử vụ án dân sự, phạm vi xét xử sơ thẩm và phạm vi xét xử phúc thẩm; luận giải bản chất linh hoạt của phạm vi xét xử bắt nguồn từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự; phân định ranh giới giữa phạm vi xét xử dân sự với giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự và tố tụng hành chính.
- Về mặt lập pháp: Phân tích chi tiết các quy định thực định tại BLTTDS 2015, BLDS 2015, các văn bản giải đáp của TANDTC (Văn bản 01/2017/GĐ-TANDTC) và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán (Nghị quyết 05/2012, 06/2012). Tác giả đã phát hiện và phân tích sâu sắc các điểm mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý tại Điều 244 và Điều 299 BLTTDS.
- Đóng góp so với các công trình trước: Kế thừa các nghiên cứu của Đỗ Huyền Ngọc (2015) và Thái Thị Hương nhưng cập nhật toàn diện theo khuôn khổ BLTTDS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2019; không chỉ dừng lại ở quyền của nguyên đơn (như Vũ Hoàng Anh 2017) hay quyền phản tố của bị đơn (như Chu Long Kiếm 2018), mà nghiên cứu tổng thể sự tác động đa chiều từ tất cả các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người liên quan) đến sự vận động của phạm vi xét xử ở cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đối với vụ án dân sự thông thường; không mở rộng nghiên cứu phạm vi giải quyết đối với việc dân sự (quan hệ phi tranh chấp), vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn, cũng như không đi sâu vào thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm do tính chất đặc thù không phải là cấp xét xử độc lập.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực chứng với mẫu thống kê bản án dân sự bị hủy, sửa do vi phạm phạm vi xét xử trên phạm vi toàn quốc; nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng dân sự quốc tế về cơ chế giới hạn quyền tài phán của Thẩm phán; hoặc phát triển đề tài nghiên cứu phạm vi giải quyết việc dân sự và giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn tại Tòa án nhân dân.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật tố tụng dân sự và Luật dân sự tại các cơ sở đào tạo luật học: Cung cấp nguồn tư liệu lý luận bài bản, các định nghĩa chuyên sâu và phương pháp tiếp cận so sánh giữa các ngành luật tố tụng.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư: Tham khảo các phân tích thực tiễn tại Chương 2 và Chương 3 liên quan đến việc xử lý yêu cầu thay đổi, bổ sung tại phiên tòa sơ thẩm, kỹ năng xác định phạm vi kháng cáo, kháng nghị và giải quyết trường hợp đương sự rút đơn tại cấp phúc thẩm.
- Người làm đề tài nghiên cứu về quyền tự định đoạt của đương sự, quyền khởi kiện, phản tố và yêu cầu độc lập trong tố tụng dân sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận định nghĩa "Phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án" như thế nào?
Theo tác giả, phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án là giới hạn những nội dung, vấn đề mà Tòa án phải xem xét giải quyết dựa trên yêu cầu của các chủ thể trong quan hệ tranh chấp dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
2. Vì sao khóa luận không nghiên cứu phạm vi xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm?
Tác giả xác định thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm mang tính chất là hoạt động tự kiểm tra, xem xét lại tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong nội bộ hệ thống tư pháp khi phát hiện có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới. Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm mang tính chất "xét" chứ không "xử", không xét xử giải quyết lại quyền và nghĩa vụ của đương sự nên không tạo thành một cấp xét xử độc lập.
3. Tiêu chí xác định việc thay đổi, bổ sung yêu cầu tại phiên tòa sơ thẩm "không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu" được tác giả luận giải ra sao?
Tác giả lập luận rằng việc thay đổi, bổ sung không vượt quá phạm vi ban đầu khi không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp mới độc lập ngoài các quan hệ pháp luật chính đang được Tòa án thụ lý giải quyết trong cùng vụ án. Trường hợp đương sự yêu cầu tăng thêm giá trị tranh chấp (như tính thêm số tiền lãi quá hạn phát sinh đến ngày mở phiên tòa trong hợp đồng vay tài sản) không bị coi là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
4. Điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 299 BLTTDS 2015 là gì?
Theo Khoản 1 Điều 299 BLTTDS năm 2015 và Điều 18 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP, khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án phải hỏi ý kiến của bị đơn. Việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn chỉ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nếu bị đơn đồng ý; khi đó Tòa án sẽ ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
5. Khóa luận nêu những ví dụ điển hình nào về việc Tòa án giải quyết vượt ra ngoài phạm vi yêu cầu của đương sự?
Tác giả dẫn chứng hai trường hợp đặc biệt: (1) Xử lý cả nhà máy xây dựng trên đất dù ngân hàng chỉ yêu cầu xử lý quyền sử dụng đất thế chấp theo quy định tại Khoản 1 Điều 325 BLDS 2015; (2) Tòa án phán quyết buộc mở lối đi cần thiết qua bất động sản liền kề khi phân chia di sản thừa kế theo Khoản 3 Điều 254 BLDS 2015 nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người nhận phần đất phía trong.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tuấn Anh là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về chế định phạm vi xét xử vụ án dân sự trong khoa học luật tố tụng dân sự Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ nền tảng lý luận, phân tích toàn diện các quy định thực định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ở cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm, đồng thời chỉ ra những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thi hành. Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất mang tính khoa học, góp phần nâng cao chất lượng xét xử và bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong tiến trình cải cách tư pháp.